Vi phạm về chất lượng thực phẩm đang là vấn đề “nóng” trong thời gian gần đây, nhất là khi nhiều cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm chỉ quan tâm tới lợi nhuận. Vậy, pháp luật quy định về vấn đề này như nào? mức xử phạt ra sao? hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Vi phạm về chất lượng thực phẩm đang là vấn đề “nóng” trong thời gian gần đây, nhất là khi nhiều cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm chỉ quan tâm tới lợi nhuận. Vậy, pháp luật quy định về vấn đề này như nào? mức xử phạt ra sao? hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
I. Thực trạng liên quan đến vi phạm về chất lượng thực phẩm
Trong bối cảnh thị trường ngày càng sôi động kéo theo tỷ lệ cạnh tranh tăng cao, nhiều tổ chức, cá nhân lựa chọn thực hiện hành vi vi phạm về chất lượng thực phẩm để gia tăng doanh thu cho mình. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng mà còn tiềm ẩn rủi ro bất ổn về xã hội.

Thực trạng liên quan đến vi phạm về chất lượng thực phẩm
Hiện nay, hành vi vi phạm về chất lượng thực phẩm phổ biến bao gồm:
- Sử dụng hóa chất, phụ gia độc hại.
- Sử dụng thực phẩm kém vệ sinh, không rõ nguồn gốc.
- Sản xuất thực phẩm trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh.
- Thành phần thực phẩm không đạt tiêu chuẩn như công bố (như vụ kẹo Kera…).
Thực trạng vi phạm về chất lượng thực phẩm hiện nay đang là một vấn đề đáng lo ngại tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Do vậy, việc đưa ra các quy định điều chỉnh và nắm rõ các quy định này có ý nghĩa quan trọng.
II. Quy định của pháp luật liên quan đến vi phạm về chất lượng thực phẩm
Phân tích dưới đây của NPLaw sẽ cung cấp cho quý bạn đọc những quy định pháp luật hiện hành về định nghĩa, hành vi vi phạm và cách xử lý khi phát hiện vi phạm về chất lượng thực phẩm.
1. Vi phạm về chất lượng thực phẩm là gì?
Đầu tiên, quý bạn đọc cần xác định thế nào là vi phạm về chất lượng thực phẩm. Việc nắm rõ định nghĩa giúp quý bạn đọc hiểu rõ bản chất hành vi này và là cơ sở xác định các trường hợp vi phạm.

Vi phạm về chất lượng thực phẩm là gì?
Theo đó, khoản 5 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 định nghĩa chất lượng là “mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”.
Đồng thời, khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cũng quy định định nghĩa về thực phẩm như sau: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”.
Như vậy, vi phạm về chất lượng thực phẩm là hành vi sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh hoặc tiêu thụ thực phẩm không đáp ứng các yêu cầu về chất lượng đã được quy định theo pháp luật.
2. Những hành vi nào bị coi là sản xuất, kinh doanh thực phẩm kém chất lượng?
Để răn đe cũng như tạo lập cơ sở để xử phạt, pháp luật hiện hành đã quy định rõ về các hành vi bị coi là sản xuất, kinh doanh thực phẩm kém chất lượng.

Những hành vi nào bị coi là sản xuất, kinh doanh thực phẩm kém chất lượng?
Theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP, hành vi vi phạm về chất lượng thực phẩm được chia thành các nhóm sau đây:
(a); Vi phạm quy định về sử dụng nguyên liệu để sản xuất, chế biến, cung cấp thực phẩm: Điều 4 Nghị định này đã liệt kê các hành vi vi phạm trong trường hợp này bao gồm:
- Sử dụng nguyên liệu đã quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng đối với nguyên liệu thuộc diện bắt buộc phải ghi thời hạn sử dụng.
- Sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
- Sử dụng sản phẩm từ động vật, thực vật để sản xuất, chế biến thực phẩm mà không được kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm dịch thực vật theo quy định của pháp luật.
- Sử dụng sản phẩm từ động vật, thực vật để sản xuất, chế biến thực phẩm mà có chỉ tiêu an toàn thực phẩm không phù hợp với quy định của quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc không phù hợp quy định pháp luật hoặc đã kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm dịch thực vật nhưng không đạt yêu cầu.
- Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy.
- Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm.
(b); Vi phạm quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm trong sản xuất, chế biến thực phẩm: Điều 5 liệt kê các hành vi vi phạm thuộc nhóm này bao gồm:
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm thuộc danh mục được phép sử dụng theo quy định nhưng đã quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn thực phẩm tương ứng.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm thuộc danh mục được phép sử dụng theo quy định nhưng không đúng đối tượng thực phẩm.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm thuộc danh mục được phép sử dụng theo quy định nhưng vượt quá mức sử dụng tối đa cho phép.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có chứa hoặc nhiễm một trong các kim loại nặng, chất độc hại vượt giới hạn cho phép.
(c); Vi phạm quy định về sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất, chế biến thực phẩm: Điều 6 quy định các hành vi vi phạm như sau:
- Sử dụng chất, hóa chất quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng.
- sử dụng chất, hóa chất vượt quá giới hạn cho phép hoặc không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn thực phẩm tương ứng.
- Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
(d); Vi phạm quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm: không thực hiện tăng cường vi chất dinh dưỡng là vitamin, khoáng chất, chất vi lượng thuộc danh mục bắt buộc phải tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm theo quy định của pháp luật (Điều 7).
(e); Vi phạm quy định về sử dụng dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm: Điều 8 Nghị định liệt kê các hành vi vi phạm bao gồm:
- Sử dụng dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn thực phẩm tương ứng để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sử dụng dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc hại để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- (f); Các hành vi vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp thực phẩm:
- Vi phạm quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, bảo quản thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm (Điều 9).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm (Điều 10).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thủy sản (Điều 11).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật tươi sống sử dụng làm thực phẩm (Điều 12).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thực vật (Điều 13).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến không bao gói sẵn và bao gói sẵn đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ (Điều 14).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống thuộc loại hình cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng tin kinh doanh ăn uống, bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng; cửa hàng ăn uống, cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín và các loại hình khác thực hiện việc chế biến, cung cấp thực phẩm (Điều 15).
- Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố (Điều 16).
Trên đây là các hành vi vi phạm phổ biến liên quan tới vi phạm về chất lượng thực phẩm. Ngoài ra, việc nhập khẩu, xuất khẩu các thực phẩm kém chất lượng cũng thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định tại nghị định này.
3. Cách xử lý thực phẩm kém chất lượng đang lưu thông trên thị trường
Khi phá hiện thực phẩm kém chất lượng đang lưu thông trên thị trường, việc xem xét để xác định cách xử lý cũng là vấn đề được nhiều chủ thể quan tâm, nhất là trong bối cảnh thực phẩm không an toàn được bày bán tràn lan trên thị trường thương mại.

Cách xử lý thực phẩm kém chất lượng đang lưu thông trên thị trường
Theo Điều 53 và 55 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, khi phát hiện thực phẩm kém chất lượng, quý bạn đọc phải khai báo với cơ sở y tế, Ủy ban nhân dân địa phương nơi gần nhất hoặc Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương để có biện pháp khắc phục kịp thời, bao gồm:
- Phát hiện, cấp cứu, điều trị kịp thời cho người bị ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người.
- Điều tra vụ ngộ độc thực phẩm, xác định nguyên nhân gây ngộ độc, bệnh truyền qua thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thực phẩm gây ngộ độc, truyền bệnh.
- Đình chỉ sản xuất, kinh doanh; thu hồi và xử lý thực phẩm gây ngộ độc, truyền bệnh đang lưu thông trên thị trường.
- Thông báo ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm cho các tổ chức, cá nhân có liên quan.
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm.
Đồng thời, thực phẩm kém chất lượng phải bị thu hồi và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn có trách nhiệm công bố thông tin về sản phẩm bị thu hồi và chịu trách nhiệm thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn trong thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; chịu mọi chi phí cho việc thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn (khoản 4 Điều 55 Luật An toàn thực phẩm năm 2010).
Như vậy, khi phát hiện thực phẩm kém chất lượng đang được lưu thông trên thị trường, quý bạn đọc cần thông báo cho cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các biện pháp cần thiết và thu hồi sản phẩm.
III. Giải đáp các thắc mắc về vi phạm về chất lượng thực phẩm
Để quý bạn đọc hiểu hơn về vi phạm chất lượng thực phẩm, NPLaw đã tổng hợp và đưa ra giải đáp cho một số thắc mắc thường gặp.
1. Vi phạm về chất lượng thực phẩm có thể dẫn đến đình chỉ hoặc đóng cửa cơ sở sản xuất không?
Có thể. Trong một số trường hợp cụ thể, việc vi phạm về chất lượng thực phẩm có thể dẫn đến đình chỉ hoặc đóng cửa cơ sở sản xuất.
Ví dụ: Khi có hành vi sử dụng nước không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật hoặc không bảo đảm vệ sinh theo quy định của pháp luật tương ứng để chế biến thức ăn; để vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ phục vụ chế biến, ăn uống, ngoài phạt tiền, cơ sở còn có thể bị đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh, cung cấp thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng (khoản 6 Điều 15 Nghị định 115/2018/NĐ-CP).
2. Nhà sản xuất bị phát hiện vi phạm về chất lượng thực phẩm có thể bị xử phạt như thế nào?
Căn cứ theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP, tùy vào hành vi phạm về chất lượng thực phẩm cụ thể mà nhà sản xuất có thể bị xử phát ở các mức khác nhau.
Ví dụ: Hành vi vi phạm quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm có thể bị phạt từ 5.000.000 - 10.000.000 đồng (Điều 7 Nghị định 115/2018/NĐ-CP).
Trường hợp đủ cấu thành tội phạm, nhà sản xuất còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bởi khoản 119 Điều 1 Bộ Luật Hình sự sửa đổi năm 2017).
3. Nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm gì khi thực phẩm do mình cung cấp gây ngộ độc cho người tiêu dùng?
Khi thực phẩm do mình cung cấp gây ngộ độc cho người tiêu dùng, nhà sản xuất phải chịu các trách nhiệm sau:
- Trách nhiệm dân sự: Bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng sử dụng thực phẩm của mình dẫn đến ngộ độc.
- Trách nhiệm hành chính: Tùy hành vi cụ thể mà mức phạt nhà sản xuất phải chịu sẽ được áp dụng khác nhau (Nghị định 115/2018/NĐ-CP).
- Trách nhiệm hình sự: Trường hợp việc gây ngộ độc ảnh hưởng tới sức khỏe trên 21 người, nhà sản xuất phải đối mặt với trách nhiệm dân sự (Điều 317 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bởi khoản 119 Điều 1 Bộ Luật Hình sự sửa đổi năm 2017).
4. Những nguyên nhân phổ biến dẫn đến vi phạm về chất lượng thực phẩm là gì?
Những nguyên nhân phổ biến dẫn đến vi phạm về chất lượng thực phẩm bao gồm:
- Chạy theo lợi nhuận, doanh thu.
- Không nắm rõ các quy định pháp luật.
- Thiếu sót trong công tác quản lý, giáo dục của Nhà nước.
- Xử phạt còn nhẹ, chưa đủ tính răn đe.
Như vậy, để hạn chế hành vi vi phạm về chất lượng thực phẩm, Nhà nước cần sát sao hơn trong công tác kiểm tra, đề ra chế tài xử lý phù hợp và tăng cường giáo dục trong xã hội.
5. Vi phạm về chất lượng thực phẩm ảnh hưởng thế nào đến uy tín và thương hiệu doanh nghiệp?
Có. Khi doanh nghiệp dính nghi vấn vi phạm về chất lượng thực phẩm thì người tiêu dùng và cả những đối tác sẽ e dè hơn khi sử dụng sản phẩm của tổ chức này. Điều này ảnh hưởng tới uy tín, thương hiệu mà doanh nghiệp xây dựng.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến vi phạm về chất lượng thực phẩm
NPLaw, với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý nói chung và lĩnh vực vi phạm về chất lượng thực phẩm nói riêng, là đối tác đáng tin cậy cho các tổ chức, cá nhân muốn tham khảo ý kiến và nhận lời khuyên về vấn đề này.
Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến vi phạm về chất lượng thực phẩm của NPLaw, chúng tôi cam kết sẽ hỗ trợ nhiệt tình và đưa ra các hướng giải quyết phù hợp với quy định hiện hành.
Như vậy, qua bài viết trên đây, NPLaw đã cung cấp cho quý bạn đọc cái nhìn tổng quan về vi phạm về chất lượng thực phẩm. Việc nắm rõ các quy định này không chỉ giúp quý bạn đọc đảm bảo quyền lợi mà còn hạn chế rủi ro pháp lý có thể phát sinh.