Thiết kế thi công không khả thi là gì? Pháp luật hiện hành quy định về vấn đề này ra sao? Bài viết dưới đây của NPLaw sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Vấn đề thiết kế thi công không khả thi là một trong những rào cản lớn nhất gây ra sự cố, chậm tiến độ và đội vốn trong các dự án xây dựng. Do vậy, việc tìm hiểu về thiết kế thi công không khả thi đang là nhu cầu của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, bài viết dưới đây của NPLaw sẽ cung cấp các thông tin cơ bản và quy định pháp luật liên quan đến tính khả thi trong thiết kế thi công.
I. Thực trạng liên quan đến thiết kế thi công không khả thi
Thiết kế thi công là nền tảng cho việc thi công công trình được an toàn và phù hợp với quy chuẩn. Do vậy, tính khả thi của thiết kế thi công luôn được đề cao. Tuy nhiên hiện nay, việc thiết kế thi công không khả thi vẫn diễn ra khá phổ biến dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi cho cả chủ đầu tư và nhà thầu
Một số hậu quả chính khi xảy ra thực trạng thiết kế thi công không khả thi có thể kể đến như:
- Chậm tiến độ thi công: Việc phải dừng thi công để thẩm tra lại, điều chỉnh thiết kế, và xin phê duyệt lại là nguyên nhân trực tiếp làm kéo dài tiến độ dự án.
- Tăng khả năng đội vốn: Khi thiết kế không khả thi, chủ đầu tư và nhà thầu buộc phải điều chỉnh thiết kế để xét duyệt, điều này có thể làm tăng chi phí và vượt quá ngân sách ban đầu.
- Nguy cơ đối diện trách nhiệm pháp lý: Thiết kế thi công không khả thi dẫn đến thiệt hại còn có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm và tranh chấp kéo dài giữa chủ đầu tư và đơn vị thiết kế.

Trước những hậu quả nghiêm trọng của việc thiết kế thi công không khả thi, pháp luật đã đặt ra nhiều quy định liên quan nhằm hạn chế sự lan rộng của hành vi này.
II. Khái niệm về thiết kế thi công không khả thi
Để hiểu rõ hơn về vấn đề thiết kế thi công không khả thi, trước hết, cần làm rõ khái niệm và nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
1. Thiết kế thi công không khả thi là gì?
Hiện nay không có quy định nào đưa ra giải thích thế nào là thiết kế thi công không khả thi. Do vậy, để làm rõ bản chất của thuật ngữ này, cần phân tích các cụm từ liên quan.
Theo khoản 43 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020, thiết kế thi công được hiểu là “thiết kế thể hiện đầy đủ các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, bảo đảm đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình”.
Như vậy, thiết kế thi công không khả thi là thiết kế tuy đã được lập và thể hiện trên hồ sơ nhưng không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình trên thực tế, do không bảo đảm một hoặc nhiều yêu cầu về thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng, chi tiết cấu tạo, tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật áp dụng, hoặc không phù hợp với điều kiện hiện trường, biện pháp và trình tự thi công.
2. Những yếu tố nào dẫn đến việc thiết kế thi công trở nên không khả thi?
Pháp luật hiện hành không có quy định liệt kê các yếu tố dẫn đến việc thiết kế thi công không khả thi. Điều này phần nào gây khó khăn cho nhiều chủ thể khi thực hiện thiết kế.
Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm về thiết kế thi công không khả thi được nêu ở trên, có thể khái quát các yếu tố dẫn đến tình trạng này như sau:
- Thiết kế không phù hợp với điều kiện địa chất, thủy văn, môi trường, hoặc hạ tầng kỹ thuật hiện có của dự án.
- Tính toán sai kết cấu, chọn sai vật liệu, hoặc áp dụng sai tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
- Thiết kế đưa ra các chi tiết, cấu kiện đòi hỏi công nghệ thi công mà nhà thầu và thị trường Việt Nam không có khả năng thực hiện được.
- Kỹ sư thiết kế thiếu kinh nghiệm thi công thực tế, dẫn đến các giải pháp thiết kế quá phức tạp hoặc phi thực tế.
- Biện pháp thi công đòi hỏi quá nhiều nguồn lực, công nghệ đặc biệt, làm tăng chi phí xây dựng một cách bất hợp lý so với mục tiêu đầu tư.
Trên đây là một số yếu tố thường gặp làm ảnh hưởng tới tính khả thi của thiết kế thi công. Trên thực tế, tùy từng trường hợp cụ thể mà các yếu tố này có thể đa dạng và phức tạp hơn.
3. Có những ví dụ thực tế nào về thiết kế thi công không khả thi trong các dự án xây dựng lớn?
Thực tế đã ghi nhận nhiều vụ việc thực tế liên quan tới thiết kế thi công không khả thi gây ảnh hưởng tới tiến độ dự án cũng như tăng chi phí hoàn thiện công trình.
Ví dụ đầu tiên cho vấn đề này là việc thi công hầm đường bộ qua nút giao thông Ngã Tư Sở (Hà Nội): Ban đầu khi thiết kế thi công, bên thầu dự định dùng tường cừ bằng cọc lắc xen để bảo vệ tạm thời thành hố đào. Tuy nhiên khi triển khai trên thực tế thì việc rút cọc có nguy cơ làm nhà dân bị nứt. Do vậy, việc rút cọc trở nên bất khả thi.
Một ví dụ thứ hai cũng nổi tiếng không kém là dự án thi công tầng hầm cao ốc Residence (Thành phố Hồ Chí Minh): Do công tác thiết kế thi công không tốt nên khi đào ở độ sâu -8m dưới đáy hố móng, nhà thầu phát hiện nước ngầm phun. Việc này kéo theo hậu quả sụt đường Nguyễn Siêu và chung cư Casaco bị lún nghiêm trọng (31/10/2007).

Trên đây chỉ là một vài vụ việc thực tế về thiết kế thi công không khả thi được NPLaw tìm hiểu và sưu tầm. Tuy nhiên chỉ qua vài ví dụ trên, quý bạn đọc cũng phần nào hiểu được tầm quan trọng của tính khả thi trong thiết kế thi công.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến thiết kế thi công không khả thi
Hiểu được hậu quả nghiêm trọng của việt thiết kế thi công không khả thi, pháp luật hiện hành đã đưa ra nhiều quy định liên quan nhằm điều chỉnh vấn đề này.
1. Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về yêu cầu tính khả thi trong thiết kế thi công công trình xây dựng?
Hiện nay pháp luật không đưa ra quy định riêng về tính khả thi trong thiết kế thi công công trình xây dựng, tuy nhiên, vấn đề này được thể hiện trong nhiều quy định liên quan.
Theo đó, khoản 1, 3 và 5 Điều 4 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 2 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020 thể hiện các nguyên tắc trong hoạt động đầu tư xây dựng, bao hàm cả việc thiết kế thi công là:
- Bảo đảm đầu tư xây dựng công trình theo quy hoạch, thiết kế, bảo vệ cảnh quan, môi trường; phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, đặc điểm văn hóa của địa phương; bảo đảm ổn định cuộc sống của Nhân dân; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng; bảo đảm nhu cầu tiếp cận sử dụng công trình thuận lợi, an toàn cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em ở các công trình công cộng, nhà cao tầng; ứng dụng khoa học và công nghệ, áp dụng hệ thống thông tin công trình trong hoạt động đầu tư xây dựng.
- Bảo đảm xây dựng đồng bộ trong từng công trình và đồng bộ với các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Đồng thời, khoản 1 và khoản 4 Điều 79 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020 và điểm a Khoản 1 Điều 57 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2024 cũng đặt ra yêu cầu với thiết kế xây dựng là:
- Đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế; phù hợp với nội dung dự án đầu tư xây dựng được duyệt, quy hoạch đô thị và nông thôn, cảnh quan kiến trúc, điều kiện tự nhiên, văn hóa - xã hội tại khu vực xây dựng.
- Có giải pháp thiết kế phù hợp và chi phí xây dựng hợp lý; bảo đảm đồng bộ trong từng công trình và với các công trình liên quan; bảo đảm điều kiện về tiện nghi, vệ sinh, sức khỏe cho người sử dụng; tạo điều kiện cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em sử dụng công trình. Khai thác lợi thế và hạn chế tác động bất lợi của điều kiện tự nhiên; ưu tiên sử dụng vật liệu tại chỗ, vật liệu thân thiện với môi trường.
Qua những quy định trên có thể thấy, pháp luật đã đặt ra yêu cầu đối với thiết kế thi công là đảm bảo sự phù hợp với các yếu tố xung quanh (như công trình liên quan,...) hay nói cách khác là đảm bảo tính khả thi của thiết kế công trình.
2. Trách nhiệm của đơn vị tư vấn thiết kế khi thiết kế không khả thi được quy định ra sao?
Một vấn đề nữa được nhiều chủ thể quan tâm là trách nhiệm của đơn vị tư vấn thiết kế khi thiết kế không khả thi được quy định như thế nào trong pháp luật hiện hành.
Theo đó, khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020 có quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của đơn vị thiết kế xây dựng công trình như sau:
- Chỉ được nhận thầu thiết kế xây dựng phù hợp với điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề thiết kế xây dựng (điểm a).
- Tuân thủ tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình; lập hồ sơ thiết kế xây dựng đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, bước thiết kế, quy định của hợp đồng thiết kế xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan (điểm b).
- Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm thiết kế do mình đảm nhận; chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế của nhà thầu phụ (nếu có) (điểm c).
- Bồi thường thiệt hại khi đề ra nhiệm vụ khảo sát, sử dụng thông tin, tài liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, giải pháp kỹ thuật, công nghệ không phù hợp gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình và vi phạm hợp đồng thiết kế xây dựng (điểm e).
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của hợp đồng thiết kế xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan (điểm g).

Tóm lại, khi đưa ra thiết kế thi công không khả thi, đơn vị tư vấn thiết kế phải chịu trách nhiệm về chất lượng của thiết kế và bồi thường thiệt hại cho chủ đầu tư khi có vấn đề phát sinh.
3. Nếu thiết kế thi công không khả thi dẫn đến chi phí phát sinh, ai phải chịu chi phí này?
Thiết kế thi công không khả thi dẫn đến phát sinh chi phí là hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của chủ đầu tư. Do vậy, việc xác định bên chịu chi phí này có ý nghĩa quan trọng.
Theo đó, điểm e khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020 có quy định về một trong các nghĩa vụ của bên thiết kế thi công là “bồi thường thiệt hại khi đề ra nhiệm vụ khảo sát, sử dụng thông tin, tài liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, giải pháp kỹ thuật, công nghệ không phù hợp gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình và vi phạm hợp đồng thiết kế xây dựng”.
Đồng thời, khoản 2 Điều 419 Bộ Luật Dân sự năm 2015 cũng quy định “người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại”.
Như vậy, trường hợp thiết kế thi công không khả thi dẫn đến chi phí phát sinh, bên thiết kế thi công phải đứng ra chịu chi phí này.
4. Khi xảy ra tranh chấp về thiết kế thi công không khả thi, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?
Hiện nay có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp về thiết kế thi công không khả thi, do vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ có sự khác nhau tùy theo phương thức mà các chủ thể lựa chọn.
Theo khoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020, chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp ứng với từng phương thức tranh chấp như sau:
- Các bên liên quan trong hợp đồng thiết kế: Trong trường hợp các bên lựa chọn phương thức tự thương lượng.
- Bên thứ 3 hòa giải (hòa giải viên, tổ chức hòa giải,...): Trong trường hợp các bên lựa chọn phương thức hòa giải.
- Trọng tài thương mại: Nếu hợp đồng có thỏa thuận trọng tài, các bên có thể khởi kiện tại Trọng tài thương mại.
- Tòa án: Trường hợp không có thỏa thuận trọng tài hoặc một bên không đồng ý giải quyết bằng các phương thức trên, tranh chấp sẽ được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền theo Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc xác định chính xác cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thiết kế thi công không khả thi sẽ là bước đi đầu tiên trên con đường bảo vệ quyền lợi của mình.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến thiết kế thi công không khả thi
Dưới đây NPLaw sẽ giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến thiết kế thi công không khả thi
1. Có những biện pháp kiểm tra nào để phát hiện sớm thiết kế thi công không khả thi?
Hiện nay không có quy định về các biện pháp kiểm tra để phát hiện sớm thiết kế thi công không khả thi, tuy nhiên dựa trên thực tiễn hiện nay, quý bạn đọc có thể tham khảo các cách sau:
- Lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng để tham khảo ý kiến của cơ quan có thẩm quyền (Điều 52 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi bởi Khoản 10 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020).
- Thuê đơn vị thẩm định thiết kế để xác nhận tính khả thi của thiết kế thi công.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể hạn chế rủi ro về thiết kế thi công không khả thi ngay từ khâu lựa chọn đơn vị thiết kế thi công uy tín, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng.
2. Nếu lỗi thiết kế không khả thi do tư vấn thiết kế gây ra, ai chịu chi phí sửa chữa hoặc điều chỉnh thiết kế?
Theo điểm c và điểm e khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020 thì khi lỗi thiết kế không khả thi do tư vấn thiết kế gây ra, bên thiết kế phải có nghĩa vụ sau:
- Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm thiết kế do mình đảm nhận; chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế của nhà thầu phụ (nếu có) (điểm c).
- Bồi thường thiệt hại khi đề ra nhiệm vụ khảo sát, sử dụng thông tin, tài liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, giải pháp kỹ thuật, công nghệ không phù hợp gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình và vi phạm hợp đồng thiết kế xây dựng (điểm e).
Như vậy, bên thiết kế sẽ là chủ thể chịu chi phí sửa chữa hoặc điều chỉnh thiết kế khi xảy ra lỗi thiết kế không khả thi do mình gây ra.
3. Nếu thiết kế không khả thi dẫn đến công trình bị đình trệ, chủ đầu tư có thể yêu cầu gia hạn hợp đồng với nhà thầu không?
Việc thiết kế không khả thi dẫn đến công trình bị đình trệ có thể xem là hành vi vi phạm hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu. Do vậy, chủ đầu tư có quyền yêu cầu bên nhà thầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ (Điều 352 Bộ Luật Dân sự năm 2015).
Như vậy, trường hợp hợp đồng hết hạn khi nhà thầu chưa thực hiện được nghĩa vụ của mình thì các bên có thể thỏa thuận để gia hạn hợp đồng.
4. Những rủi ro nào nhà đầu tư có thể gặp phải khi thiết kế thi công không khả thi?
Khi phát sinh vấn đề thiết kế thi công không khả thi, nhà đầu tư có thể gặp phải những rủi ro sau:
- Rủi ro tài chính: Đội vốn, phát sinh chi phí sửa chữa, chi phí thuê tư vấn thẩm tra, giám định….
- Rủi ro tiến độ: Nguy cơ chậm tiến độ dự án, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh và khai thác công trình.
- Rủi ro pháp lý: Nguy cơ bị kéo vào quy trình kiện tụng kéo dài với bên tư vấn để đòi lại quyền lợi của mình.
Trước những rủi ro trên, nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ đơn vị thiết kế và cẩn trọng khi thực hiện thiết kế thi công để đảm bảo tính khả thi.
5. Khi phát hiện thiết kế thi công không khả thi, việc lập biên bản xác nhận có cần thiết không?
Có. Việc lập biên bản xác nhận thiết kế thi công không khả thi là bằng chứng quan trọng để:
- Xác nhận thời điểm, phạm vi, và nguyên nhân chính xác của việc thiết kế không khả thi.
- Xác định trách nhiệm của đơn vị thiết kế và làm cơ sở cho việc yêu cầu điều chỉnh, bồi thường.
- Ghi nhận sự kiện làm ảnh hưởng đến tiến độ, làm cơ sở để nhà thầu thi công yêu cầu gia hạn hợp đồng.
Như vậy, khi phát hiện thiết kế thi công không khả thi, việc lập biên bản xác nhận là hoàn toàn cần thiết.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NP Law khi có vấn đề về thiết kế thi công không khả thi
Với kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực tư vấn các vấn đề liên quan tới thiết kế thi công không khả thi, NPLaw hiện đang là một trong những đơn vị được khách hàng tin cậy khi muốn nhận lời khuyên về lĩnh vực này.
Sử dụng dịch vụ của NPLaw, quý bạn đọc sẽ nhận được những quyền lợi sau:
- Phân tích hợp đồng: Rà soát hợp đồng thiết kế và hợp đồng thi công để xác định rõ ràng điều khoản về trách nhiệm, quyền tạm dừng thi công, và cơ chế điều chỉnh chi phí, tiến độ khi thiết kế có lỗi.
- Tính toán chính xác các khoản thiệt hại phát sinh và lập hồ sơ yêu cầu bồi thường đối với bên tư vấn thiết kế.
- Giải quyết Tranh chấp: Đại diện hoặc tư vấn trong quá trình thương lượng, hòa giải, hoặc tiến hành thủ tục Trọng tài, Tòa án để bảo vệ lợi ích của bạn trước các bên liên quan.
Với những ưu điểm trên, NPLaw là đơn vị được nhiều chủ thể tin tưởng khi có nhu cầu tham khảo ý kiến về vấn đề thiết kế thi công không khả thi.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.