Không phải mọi sự cố công trình đều xuất phát từ vật liệu kém hay thi công sai kỹ thuật, nhiều trường hợp lại bắt nguồn từ việc báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực. Chỉ một thông số bị bóp méo cũng có thể làm sai lệch toàn bộ quá trình giám sát, dẫn đến rủi ro nghiêm trọng cho cộng đồng. Bài viết sẽ phân tích quy định hiện hành về xử phạt báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực, giúp người đọc nắm rõ trách nhiệm pháp lý liên quan.
Không phải mọi sự cố công trình đều xuất phát từ vật liệu kém hay thi công sai kỹ thuật, nhiều trường hợp lại bắt nguồn từ việc báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực. Chỉ một thông số bị bóp méo cũng có thể làm sai lệch toàn bộ quá trình giám sát, dẫn đến rủi ro nghiêm trọng cho cộng đồng. Bài viết sẽ phân tích quy định hiện hành về xử phạt báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực, giúp người đọc nắm rõ trách nhiệm pháp lý liên quan.
I. Thực trạng liên quan đến báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực
Tình trạng báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực vẫn xuất hiện ở nhiều dự án, đặc biệt tại các công trình có áp lực về tiến độ hoặc thiếu kiểm soát độc lập. Một số đơn vị lập báo cáo có xu hướng “làm đẹp” số liệu, che giấu thông tin kỹ thuật hoặc không phản ánh đúng chất lượng vật liệu và hạng mục thi công. Điều này dẫn đến sai lệch trong quản lý chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nghiệm thu, an toàn sử dụng và trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ quy trình giám sát còn lỏng lẻo, sự phụ thuộc vào đơn vị tư vấn, thiếu ứng dụng công nghệ kiểm định và tâm lý né tránh rủi ro của chủ thể lập báo cáo. Dù pháp luật đã có chế tài, mức độ vi phạm vẫn tồn tại, cho thấy nhu cầu tăng cường minh bạch và tuân thủ trong hoạt động đánh giá chất lượng công trình.
II. Khái niệm về báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực
Báo cáo đánh giá chất lượng công trình là tài liệu gốc xác nhận mức độ an toàn, độ bền và sự phù hợp của công trình với tiêu chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, khi tài liệu này bị làm sai lệch, nó không chỉ ảnh hưởng đến kết quả nghiệm thu mà còn tác động trực tiếp đến tính mạng người sử dụng, trách nhiệm pháp lý và uy tín của chủ thể tham gia xây dựng. Để hiểu đúng bản chất và kiểm soát hiệu quả, cần làm rõ khái niệm, nhận diện hành vi và xác định các biện pháp kỹ thuật hiện có.
1. Báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực là gì?
Theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 3 Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi, bổ sung 2020), pháp luật đưa ra ba khái niệm quan trọng liên quan đến hệ thống báo cáo trong hoạt động đầu tư xây dựng.
Trong giai đoạn thi công – nghiệm thu, báo cáo đánh giá chất lượng công trình phải đảm bảo báo cáo được lập dựa trên thông tin trung thực, chính xác về hiện trạng, số liệu và các điều kiện liên quan đến công trình. Báo cáo này phản ánh kết quả kiểm tra, đánh giá khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, mức độ an toàn và chất lượng thực tế của công trình trước khi đưa vào sử dụng. Khi thông tin trong báo cáo bị bóp méo, làm sai lệch hoặc che giấu sự thật, hành vi đó được xem là báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực.
Hiểu một cách chung nhất, báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực là việc cung cấp thông tin sai lệch, che giấu hư hỏng hoặc điều chỉnh kết quả kiểm định để làm cho công trình được nghiệm thu, đưa vào sử dụng hoặc thanh toán chi phí trái với thực tế. Báo cáo này vốn phải phản ánh trung thực mức độ an toàn, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng thực tế của công trình trước khi đưa vào khai thác. Khi người lập báo cáo cố ý làm sai sự thật, hành vi đó bị xem là báo cáo không trung thực và hành vi này có thể gây mất an toàn, ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng, thậm chí kéo theo trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự.
2. Những hành vi nào được xem là báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực?
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, “quản lý chất lượng công trình xây dựng” bao gồm toàn bộ các hoạt động như thí nghiệm chuyên ngành, kiểm định, quan trắc, kiểm tra – kiểm soát chất lượng vật liệu, cấu kiện, thiết bị; giám sát thi công; nghiệm thu; lập hồ sơ hoàn thành công trình.
Xuất phát từ các quy định này, khi một công trình được nghiệm thu hoặc đánh giá chất lượng mà hồ sơ/kết quả bị sai, bị làm giả, không phản ánh đúng thực tế thì được coi là vi phạm. Cụ thể, các hành vi sau được xem là vi phạm pháp luật:
– Không thực hiện hoặc làm sai quy định thí nghiệm, kiểm định vật liệu – cấu kiện – thiết bị. Theo Điều 4 và Điều 5 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, công tác thí nghiệm – kiểm định, thử nghiệm khả năng chịu lực kết cấu, kiểm định vật liệu là bắt buộc nếu thiết kế hoặc hiện trạng công trình yêu cầu. Nếu đơn vị thi công hoặc kiểm định bỏ qua, không làm thí nghiệm mà vẫn xác nhận đạt yêu cầu thì việc đó là vi phạm nghiêm trọng quy định quản lý chất lượng.
– Gian dối trong kết quả kiểm định, thử nghiệm hoặc nghiệm thu: bao gồm chỉnh sửa số liệu thử nghiệm, giả mạo phiếu kiểm định, ghi khống kết quả để công trình “đạt yêu cầu” dù thực tế không đảm bảo. Vì Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định rõ các công tác kiểm định, thử nghiệm, kiểm soát chất lượng phải đúng quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng.
– Bỏ qua khuyết tật, sai phạm khi thi công – giám sát – nghiệm thu: theo Điều 21 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, nghiệm thu công việc xây dựng chỉ được thực hiện khi có đầy đủ căn cứ: bản vẽ thiết kế phê duyệt, chỉ dẫn kỹ thuật, kết quả thử nghiệm/kiểm tra vật liệu/thi công liên quan. Người giám sát phải kiểm tra phù hợp với hồ sơ thiết kế, tiêu chuẩn, quy chuẩn, kết quả kiểm định. Nếu người giám sát bỏ qua sai sót kỹ thuật, khuyết tật cấu kiện, thi công không đúng thiết kế mà vẫn lập biên bản nghiệm thu – đó là vi phạm.
– Lập hồ sơ hoàn thành công trình không đầy đủ, giả mạo hoặc hợp thức hóa khi công trình chưa đáp ứng điều kiện. Nghị định 06/2021/NĐ-CP yêu cầu trước khi đưa công trình vào sử dụng phải thử nghiệm, kiểm định và có biên bản nghiệm thu, hồ sơ hoàn thành công trình (theo quy định tại các điều về kiểm định và nghiệm thu, ví dụ Điều 24 về kiểm tra, nghiệm thu, kiểm định trước khi đưa công trình vào sử dụng). Nếu hồ sơ bị làm giả, thiếu kết quả kiểm định, hoặc chứng chỉ vật liệu mà vẫn xác nhận công trình đạt thì hồ sơ đó không hợp pháp, tương đương với “báo cáo không trung thực”.
Tóm lại, mọi hành vi liên quan đến thí nghiệm, kiểm định, giám sát thi công, nghiệm thu, hồ sơ hoàn công mà vi phạm quy định về chuyên môn, kỹ thuật hoặc gian dối về số liệu, kết quả đều bị coi là vi phạm pháp luật theo Nghị định 06/2021/NĐ-CP, tương đương với khái niệm “báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực”.
3. Có biện pháp kỹ thuật nào giúp hạn chế tình trạng báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực hiện nay?
Nghị định 06/2021/NĐ-CP không chỉ quy định nghĩa vụ kiểm định, nghiệm thu, kiểm soát chất lượng mà còn đặt ra các biện pháp kỹ thuật – quản lý nhằm đảm bảo tính khách quan, an toàn và minh bạch.
Các biện pháp đó gồm:
– Thực hiện thí nghiệm chuyên ngành và kiểm định xây dựng đúng tiêu chuẩn: Theo Điều 4, Điều 5 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, mọi vật liệu, cấu kiện, kết cấu công trình trước khi sử dụng phải được kiểm định hoặc thử nghiệm để đảm bảo phù hợp thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật. Việc này giúp phát hiện sớm khuyết tật, sai sót về chất lượng trước khi nghiệm thu và sử dụng.
– Giám sát thi công chặt chẽ và nghiệm thu công việc đúng quy trình: Điều 21 Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định rõ nghĩa vụ giám sát khi nghiệm thu công việc xây dựng, căn cứ vào thiết kế, tiêu chuẩn, kết quả kiểm định/ thử nghiệm. Nếu thực hiện đúng, sẽ giảm nguy cơ công trình được nghiệm thu sai mặc dù không đảm bảo chất lượng.
– Kiểm tra, kiểm định lại (kiểm định trước khi đưa công trình vào sử dụng) đối với các công trình có yêu cầu đặc biệt, công trình cấp cao, công trình sử dụng vốn nhà nước, công trình ảnh hưởng cộng đồng theo quy định tại Điều 24 Nghị định 06/2021/NĐ-CP: trước khi đưa vào sử dụng, công trình phải được kiểm định, thử nghiệm và được cơ quan chuyên môn kiểm tra/nếu công trình nằm trong diện kiểm tra. Việc kiểm định lại hoặc kiểm định độc lập giúp phát hiện sai sót mà nghiệm thu nội bộ có thể bỏ qua.
– Yêu cầu lập hồ sơ hoàn thành công trình đầy đủ và lưu giữ hồ sơ chứng từ: theo các quy định chung trong Nghị định, bao gồm hồ sơ thi công, nghiệm thu, kiểm định, kết quả thử nghiệm, biên bản nghiệm thu/kiểm định làm cơ sở để kiểm tra, đối chiếu sau này nếu cần.
Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật bổ trợ, ví dụ giám sát độc lập, kiểm định chéo, quan trắc định kỳ, thử nghiệm ngẫu nhiên và nằm trong phạm vi thực thi nghĩa vụ “thí nghiệm, kiểm định, kiểm soát chất lượng công trình” được luật yêu cầu.
Nếu các biện pháp nêu trên được thực hiện nghiêm túc, việc xác minh, kiểm soát chất lượng công trình sẽ rõ ràng hơn hạn chế rủi ro về gian dối hồ sơ, sai nghiệm thu, báo cáo không trung thực đảm bảo an toàn, minh bạch và đúng luật.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực
Việc lập báo cáo đánh giá chất lượng công trình luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình quản lý chất lượng xây dựng. Pháp luật quy định chặt chẽ cả về khi nào phải lập báo cáo, nội dung báo cáo phải có gì, quy trình lập và phê duyệt ra sao, và đặc biệt là chế tài đối với hành vi lập báo cáo không trung thực. Đây là những quy định mà chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn giám sát, đơn vị kiểm định và cơ quan quản lý đều phải tuân thủ nghiêm ngặt để bảo đảm an toàn công trình và an toàn xã hội.
1. Trường hợp nào cần phải báo cáo đánh giá chất lượng công trình
Theo quy định pháp luật hiện hành, việc đánh giá chất lượng công trình được quy định chủ yếu thông qua hoạt động kiểm định xây dựng, đánh giá an toàn công trình, và nghiệm thu hoàn thành.
Căn cứ khoản 2 Điều 5 và khoản 5 Điều 33 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, việc đánh giá chất lượng công trình là bắt buộc trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, công trình có dấu hiệu hư hỏng, xuống cấp hoặc nguy hiểm, chẳng hạn như nứt kết cấu, võng sàn, sụt lún, bong tróc vật liệu. Trong các trường hợp này, chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý buộc phải tổ chức kiểm định và lập báo cáo đánh giá mức độ an toàn, làm cơ sở để quyết định tiếp tục sử dụng, sửa chữa hay dừng hoạt động công trình.
Thứ hai, khi công trình xảy ra sự cố xây dựng, bao gồm sự cố sập đổ, biến dạng lớn hoặc hư hỏng ảnh hưởng tới an toàn (Điều 44 Nghị định 06/2021/NĐ-CP). Khi đó, báo cáo đánh giá chất lượng là tài liệu bắt buộc để phục vụ xác định nguyên nhân và trách nhiệm.
Thứ ba, khi cần kéo dài thời hạn sử dụng công trình, đặc biệt là các công trình đã hết niên hạn theo thiết kế. Theo khoản 3 Điều 39 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, công trình chỉ được tiếp tục sử dụng khi đã được kiểm định và đánh giá an toàn đầy đủ.
Thứ tư, khi cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu kiểm định, đặc biệt đối với công trình có dấu hiệu nguy hiểm hoặc tiềm ẩn rủi ro mất an toàn cho cộng đồng.
Ngoài ra, Điều 123 Luật Xây dựng 2014 cũng gián tiếp yêu cầu đánh giá chất lượng thông qua việc bắt buộc phải có hồ sơ chất lượng, kết quả thí nghiệm kiểm tra và tài liệu chứng minh điều kiện an toàn phục vụ nghiệm thu hoàn thành công trình.
Như vậy, báo cáo đánh giá chất lượng công trình là yêu cầu bắt buộc trong rất nhiều giai đoạn, từ vận hành, khai thác đến khi xảy ra sự cố hoặc cần đảm bảo an toàn cho công trình và cộng đồng.
2. Báo cáo đánh giá chất lượng công trình bao gồm những nội dung nào?
Theo Điều 37 Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định nội dung đánh giá an toàn công trình – tức những thành phần tối thiểu bắt buộc phải có trong một “báo cáo đánh giá chất lượng công trình” (nghiệm thu, kiểm định, giám định). Khi soạn báo cáo, tổ chức kiểm định/đánh giá phải đảm bảo các nội dung sau đây xuất hiện rõ ràng trong báo cáo và được chứng thực bằng tài liệu, số liệu hoặc biên bản kèm theo:
– Thông tin cơ bản và phạm vi đánh giá: tên công trình, vị trí, chủ sở hữu/ chủ đầu tư, bộ phận/ hạng mục được đánh giá, thời điểm thực hiện.
– Đề cương / mục tiêu và phương pháp đánh giá: nội dung và phạm vi công việc đã được phê duyệt (đề cương), phương pháp khảo sát, phương pháp lấy mẫu, phương pháp thử nghiệm, thiết bị sử dụng và tiêu chuẩn – quy chuẩn áp dụng để đối chiếu đánh giá.
– Kết quả kiểm định, thí nghiệm, đo đạc và minh chứng hiện trường: số liệu, bảng biểu, phiếu thử nghiệm của phòng thí nghiệm đủ năng lực, biên bản hiện trường, ảnh chụp vị trí hư hỏng, dữ liệu quan trắc (nếu có). Báo cáo phải dẫn chiếu và đính kèm các chứng từ này để bảo đảm tính kiểm chứng.

– Phân tích kỹ thuật và đánh giá mức độ an toàn: dựa trên số liệu thu được, báo cáo phải phân tích nguyên nhân hư hỏng, đánh giá khả năng chịu lực/mức độ nguy hiểm và xếp loại mức độ an toàn theo tiêu chí kỹ thuật (ví dụ: có nguy cơ mất an toàn phải dừng khai thác hay không).
– Kết luận và kiến nghị xử lý: nêu rõ kết luận (đạt/không đạt/ cần gia cố/ phải dừng khai thác), đề xuất giải pháp khắc phục, tiến độ, yêu cầu nghiệm thu sau sửa chữa và bên chịu trách nhiệm thực hiện. (theo Điều 37 và quy định xử lý tại Điều 40–41).
– Phụ lục chứng từ: danh mục biên bản, phiếu thí nghiệm gốc, hồ sơ thiết kế/hoàn công liên quan, chữ ký và con dấu của tổ chức/cá nhân chịu trách nhiệm chuyên môn. (Điều 36–37: yêu cầu lưu trữ, cung cấp hồ sơ cho chủ đầu tư và cơ quan có thẩm quyền).
Lưu ý thực tiễn: nếu báo cáo thiếu phiếu thử nghiệm của phòng thí nghiệm có năng lực hoặc thiếu biên bản hiện trường, cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu kiểm định lại hoặc bác bỏ kết luận; đây là cơ sở phát hiện “báo cáo không trung thực”.
3. Quy trình lập và phê duyệt báo cáo đánh giá chất lượng công trình phải tuân thủ những bước nào?
Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định trình tự thực hiện đánh giá an toàn tại Điều 36, đồng thời quy định trách nhiệm, xác nhận và thủ tục gửi báo cáo tại Điều 38–39 Nghị định này. Dưới đây là quy trình pháp lý giữ đúng trình tự, tránh bỏ sót chứng từ.
– Lập đề cương đánh giá, xác định mục tiêu và phạm vi: Trước khi khảo sát, chủ sở hữu hoặc tổ chức kiểm định (nếu được thuê) phải lập đề cương nêu mục tiêu, phạm vi, phương pháp, tiêu chuẩn và tiến độ thực hiện (yêu cầu cơ bản được quy định trong Điều 36).
– Chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật, bàn giao tài liệu: Chủ sở hữu có trách nhiệm bàn giao hồ sơ bảo trì, hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, bản vẽ hoàn công, lý lịch thiết bị và các tài liệu cần thiết để tổ chức kiểm định lập đề cương và tiến hành khảo sát (theo Điều 38).
– Khảo sát hiện trường, lấy mẫu và thí nghiệm: Tổ chức thực hiện tiến hành đo đạc, lấy mẫu, thử nghiệm tại phòng thí nghiệm có năng lực, lập biên bản hiện trường, phiếu lấy mẫu và phiếu thử nghiệm. Tất cả chứng từ này phải được lưu trữ để làm căn cứ cho báo cáo (quy định về nội dung và chứng từ liên quan được nêu tại Điều 36–37).
– Tổng hợp, phân tích và lập báo cáo kết quả đánh giá: Dựa trên đề cương và số liệu, tổ chức kiểm định lập báo cáo chi tiết (theo nội dung Điều 37): thông tin, phương pháp, kết quả, phân tích, kết luận, kiến nghị và phụ lục. Báo cáo phải do người có năng lực chuyên môn ký và chịu trách nhiệm.
– Thẩm tra, xác nhận và (nếu cần) gửi cơ quan chuyên môn: Chủ sở hữu thẩm tra báo cáo; trong các trường hợp thuộc diện phải báo cáo cơ quan quản lý (ví dụ: công trình có dấu hiệu nguy hiểm, sự cố hoặc thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành), báo cáo được nộp cho cơ quan chuyên môn theo quy định tại Điều 39 Nghị định 06/2021/NĐ-CP để kiểm tra, xác nhận và cho ý kiến. Cơ quan chuyên môn có thể yêu cầu kiểm định lại hoặc bổ sung hồ sơ.
– Ra quyết định xử lý và lưu trữ hồ sơ: Dựa trên kết luận báo cáo (và ý kiến cơ quan chuyên môn khi có), chủ sở hữu hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định biện pháp: tiếp tục sử dụng, sửa chữa/gia cố, hạn chế khai thác hoặc dừng sử dụng; mọi hồ sơ liên quan phải được lưu trữ theo quy định (Điều 40–41 quy định xử lý công trình có dấu hiệu nguy hiểm hoặc hết niên hạn).
Dễ dàng nhận thấy, mọi bước trên đều phải được chứng minh bằng biên bản, phiếu thí nghiệm, đề cương đã phê duyệt; “nhảy cóc” (bỏ qua bước thí nghiệm, ký khống biên bản, dùng kết quả phòng thí nghiệm không đủ năng lực) sẽ làm báo cáo mất giá trị pháp lý và mở đường cho xử lý vi phạm.
4. Chế tài áp dụng đối với hành vi báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực
Pháp luật Việt Nam áp dụng chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi lập báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực, bởi đây là hành vi có thể dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như sập công trình, gây thiệt hại tài sản và đe dọa tính mạng người dân.
– Xử phạt hành chính: Theo Điều 18 và Điều 20 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, hành vi lập báo cáo kiểm định, hồ sơ nghiệm thu hoặc hồ sơ quản lý chất lượng không đúng sự thật, hoặc sử dụng kết quả thí nghiệm giả, có thể bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tùy mức độ và quy mô công trình. Ngoài ra, đơn vị vi phạm còn có thể bị đình chỉ hoạt động kiểm định, buộc kiểm định lại hoặc thu hồi chứng chỉ năng lực.
– Trách nhiệm hình sự: Trong trường hợp hành vi gian dối có sử dụng tài liệu giả như phiếu thí nghiệm, biên bản nghiệm thu hoặc hồ sơ kỹ thuật, cá nhân thực hiện có thể bị truy cứu theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức, với mức phạt tù lên đến 7 năm. Nếu hành vi lập báo cáo không trung thực gây hậu quả nghiêm trọng như sập công trình, gây thương tích hoặc thiệt hại về tài sản, chủ thể vi phạm có thể bị truy cứu theo Điều 298 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 100 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) về tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng, với mức phạt tù tối đa 20 năm.
– Trách nhiệm dân sự: Theo Điều 584 – 592 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại do báo cáo sai sự thật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, bao gồm chi phí sửa chữa công trình, thiệt hại về tài sản, thiệt hại do ngừng hoạt động và thậm chí thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người bị ảnh hưởng.
Do đó, báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực không chỉ là hành vi vi phạm hành chính đơn thuần mà còn có thể dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt rất nặng và buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh. Đây là lý do các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng cần tuyệt đối tuân thủ quy trình kiểm định, đánh giá và nghiệm thu theo đúng quy định của Luật Xây dựng và các nghị định hướng dẫn.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực
Trong thực tế quản lý, thi công và sử dụng công trình, việc lập báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực (như khai man kết quả kiểm định, làm giả biên bản kiểm tra, bỏ qua hư hỏng hoặc dùng số liệu không đúng thực tế…) đặt ra rất nhiều hệ lụy. Dưới đây là giải đáp chi tiết một số câu hỏi thường gặp.
1. Báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình nghiệm thu, bàn giao công trình?
Báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực có thể làm vô hiệu toàn bộ kết quả nghiệm thu và khiến công trình không đủ điều kiện bàn giao, đưa vào sử dụng. Điều này xuất phát từ quy định của Điều 123 và Điều 124 Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi 2020), trong đó quy định rõ rằng nghiệm thu chỉ được thực hiện khi công trình bảo đảm chất lượng và hồ sơ nghiệm thu phải trung thực, chính xác.
Tương tự, theo khoản 4 Điều 21 Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định biên bản nghiệm thu phải thể hiện rõ nội dung công việc được nghiệm thu, kết luận chấp nhận hay không chấp nhận nghiệm thu và các yêu cầu cần khắc phục. Các chủ thể ký biên bản chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng của công việc xây dựng. Theo đó, Điều 9 Thông tư 174/2021/TT-BQP cũng quy định chi tiết với công trình hoặc hạng mục công trình chỉ được đưa vào sử dụng sau khi đáp ứng đủ điều kiện nghiệm thu theo quy định.
Vì vậy, nếu hồ sơ đánh giá chất lượng không trung thực, bị làm giả hoặc sai lệch, kết quả nghiệm thu có thể bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xem xét lại hoặc không được chấp thuận, đồng nghĩa với việc công trình chưa thể được đưa vào khai thác hay bàn giao.
2. Đơn vị tư vấn giám sát có bị liên đới trách nhiệm nếu không phát hiện báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực không?
Đơn vị tư vấn giám sát hoàn toàn có thể bị liên đới trách nhiệm nếu không phát hiện báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực trong phạm vi nhiệm vụ mà pháp luật giao cho họ. Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, tư vấn giám sát có trách nhiệm kiểm tra chất lượng thi công, xác nhận khối lượng, kiểm tra hồ sơ quản lý chất lượng và kịp thời báo cáo sai phạm cho chủ đầu tư. Khi vi phạm nghĩa vụ này tức là bỏ sót gian dối, không kiểm tra hoặc xác nhận hồ sơ sai sự thật, tổ chức tư vấn giám sát được xem là không thực hiện đúng trách nhiệm nghề nghiệp.
Về chế tài hành chính, Điều 40 Nghị định 16/2022/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi không phát hiện hoặc không báo cáo hành vi vi phạm chất lượng công trình; hoặc xác nhận sai hồ sơ đánh giá chất lượng. Mức phạt có thể lên đến 60 triệu đồng, và trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, đơn vị tư vấn giám sát còn bị đình chỉ hoạt động từ 6 đến 12 tháng.
Ngoài ra, theo Điều 13 và Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015, nếu sự thiếu trách nhiệm của đơn vị tư vấn giám sát dẫn đến thiệt hại như giảm chất lượng công trình, phát sinh chi phí sửa chữa hoặc gây mất an toàn, họ phải bồi thường thiệt hại cho chủ đầu tư hoặc bên liên quan.
Tóm lại, tư vấn giám sát chịu trách nhiệm liên đới khi hành vi không phát hiện gian dối nằm trong phạm vi nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng và pháp luật, với các chế tài gồm: phạt tiền, đình chỉ hoạt động và bồi thường thiệt hại nếu gây hậu quả.
3. Trường hợp báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực gây ra thiệt hại nghiêm trọng, có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Pháp luật Việt Nam hiện hành có quy định truy cứu trách nhiệm hình sự nếu báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực gây hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, hành vi lập báo cáo sai sự thật là vi phạm trong hoạt động xây dựng theo Điều 40 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, quy định xử phạt khi cung cấp thông tin, hồ sơ không trung thực liên quan nghiệm thu, chất lượng công trình.
Khi hành vi gian dối dẫn đến sự cố, gây thiệt hại lớn, người thực hiện có thể bị xử lý hình sự theo Bộ luật Hình sự, cụ thể:
– Điều 298 BLHS 2015 (sửa đổi bởi khoản 100 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017): Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng.
– Điều 360 BLHS 2015 (sửa đổi bởi khoản 128 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017): Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, áp dụng với cá nhân có chức trách nhưng cố ý làm trái hoặc buông lỏng quản lý.
Có thể thấy, nếu báo cáo không trung thực làm công trình mất an toàn, gây sập đổ, hư hại lớn, thiệt hại tài sản hoặc ảnh hưởng sức khỏe – tính mạng, thì hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều luật trên.
4. Theo quy định, ai chịu trách nhiệm pháp lý chính khi xảy ra báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực?
Khi báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực, trước hết người trực tiếp lập và ký báo cáo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung. Luật Xây dựng 2014 quy định rõ tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng phải chịu trách nhiệm về kết quả công việc chuyên môn mà mình thực hiện (Điều 148). Do đó, người kiểm định, thử nghiệm, tư vấn đánh giá chất lượng công trình là chủ thể chịu trách nhiệm đầu tiên nếu để xảy ra sai lệch, gian dối trong báo cáo.

Bên cạnh đó, chủ đầu tư cũng chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình trong suốt quá trình thực hiện dự án. Theo Điều 121 Luật Xây dựng 2014, chủ đầu tư có nghĩa vụ “tổ chức quản lý chất lượng công trình” và “nghiệm thu công trình theo quy định”, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định nghiệm thu. Nếu chủ đầu tư sử dụng báo cáo không trung thực để nghiệm thu mà không kiểm tra, thẩm định hoặc giám sát theo đúng quy định, họ cũng phải chịu trách nhiệm tương ứng.
Ngoài ra, nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định cũng có thể bị xử lý nếu vi phạm nghĩa vụ theo phạm vi công việc của mình. Theo Điều 121, Điều 123 và Điều 124 Luật Xây dựng 2014 quy định:
– Nhà thầu thi công phải chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn công trình.
– Tư vấn giám sát chịu trách nhiệm về việc xác nhận khối lượng, chất lượng và sự phù hợp của công việc.
– Tổ chức kiểm định chịu trách nhiệm về kết quả kiểm định, thử nghiệm.
Trách nhiệm không chỉ tập trung ở một bên mà được xác định dựa trên vai trò và hành vi của từng chủ thể. Người lập báo cáo, người ký xác nhận, chủ đầu tư, nhà thầu thi công và tư vấn giám sát/kiểm định đều có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật tùy theo mức độ vi phạm và phạm vi công việc liên quan.
5. Có quy định nào về việc công khai báo cáo đánh giá chất lượng công trình để đảm bảo tính minh bạch, tránh gian dối không?
Hiện nay, pháp luật xây dựng và quản lý chất lượng công trình ở Việt Nam quy định rõ nghĩa vụ lập báo cáo giám sát, kiểm định, nghiệm thu theo đúng mẫu, tiêu chuẩn và trình tự, đồng thời yêu cầu lưu trữ hồ sơ, giấy tờ kiểm định, biên bản nghiệm thu để cơ quan quản lý, chủ đầu tư hoặc đối tượng liên quan có thể kiểm tra.
Tuy nhiên, không có quy định chung bắt buộc rằng mọi báo cáo đánh giá chất lượng công trình phải được công khai rộng rãi cho cộng đồng (ví dụ đăng tải lên cổng thông tin, dễ dàng tra cứu). Việc “công khai” hay “minh bạch” thường phụ thuộc vào loại công trình, quy mô, chủ đầu tư, hoặc yêu cầu của cơ quan quản lý trong từng dự án cụ thể.
Một phần lý do là việc công khai toàn bộ báo cáo, kết quả kiểm định, biên bản nghiệm thu có thể chứa thông tin kỹ thuật, bản vẽ, số liệu chi tiết mà pháp luật chưa quy định chung về công khai. Do đó, đa phần các báo cáo chỉ được lưu trữ tại chủ đầu tư, đơn vị giám sát, đơn vị kiểm định và cơ quan quản lý nếu có yêu cầu hoặc kiểm tra, mới có thể tra cứu.
Trong bối cảnh đó, nếu muốn đảm bảo minh bạch và tránh gian dối, biện pháp hiệu quả hơn thường là: người dân, cư dân, người mua/bên sử dụng công trình khi có nghi ngờ thì có quyền yêu cầu chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý cung cấp hồ sơ kiểm định, nghiệm thu, báo cáo chất lượng công trình để kiểm chứng. Nếu từ chối cung cấp mà nghi ngờ báo cáo không trung thực, có thể tố cáo đến cơ quan quản lý hoặc cơ quan chức năng có thẩm quyền để yêu cầu thanh tra, kiểm định lại.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực
Khi báo cáo đánh giá chất lượng công trình có dấu hiệu không trung thực, việc có luật sư am hiểu pháp luật xây dựng hỗ trợ là rất cần thiết để tránh rủi ro và bảo vệ quyền lợi. NPLaw là lựa chọn phù hợp vì đội ngũ luật sư tại đây có kiến thức chuyên sâu về các quy định liên quan đến quản lý chất lượng, nghiệm thu và kiểm định công trình, giúp nhanh chóng nhận diện dấu hiệu sai phạm và đánh giá trách nhiệm của từng bên.
Kinh nghiệm xử lý nhiều vụ việc tương tự cũng là thế mạnh lớn của NP Law. Nhờ từng làm việc với các hồ sơ liên quan đến báo cáo sai số liệu, che giấu hiện trạng kỹ thuật hoặc nghiệm thu không đúng quy định, NP Law hiểu rõ cách thu thập chứng cứ, cách làm việc với cơ quan chuyên môn và hướng xử lý hiệu quả nhất cho từng tình huống.
Luật sư của NP Law luôn tư vấn theo hướng rõ ràng, dễ hiểu, giúp khách hàng – ngay cả người không chuyên – vẫn nắm bắt được vấn đề. Bên cạnh đó, NPLaw đồng hành xuyên suốt quy trình từ việc rà soát hồ sơ, đề nghị kiểm định lại cho đến đại diện làm việc với các bên hoặc giải quyết tranh chấp khi cần thiết.
Tính bảo mật và chi phí hợp lý cũng là điểm cộng khiến nhiều khách hàng tin tưởng NPLaw. Mọi tài liệu kỹ thuật và thông tin dự án đều được bảo đảm tuyệt đối, trong khi giải pháp pháp lý luôn được xây dựng theo hướng tiết kiệm và hiệu quả.
Với chuyên môn, kinh nghiệm và sự tận tâm, NPLaw là địa chỉ đáng tin cậy khi bạn cần hỗ trợ pháp lý trong các vấn đề liên quan đến báo cáo đánh giá chất lượng công trình không trung thực. Nếu cần rà soát lại báo cáo hoặc xử lý dấu hiệu gian dối, NPLaw luôn sẵn sàng đồng hành và bảo vệ quyền lợi cho bạn.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.