Bị sa thải trái pháp luật là một trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người lao động. Thông qua bài viết này, NPLaw xin gửi đến Quý Khách hàng một số thông tin pháp lý hữu ích liên quan đến trường hợp bị sa thải trái pháp luật.
I. Vấn đề bị sa thải trái pháp luật
Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trước Tết Nguyên đán 2024 đã xảy ra 11 cuộc tranh chấp lao động trên cả nước. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phát hiện hơn 25.000 sai phạm về pháp luật lao động tại Việt Nam (thời điểm không được nêu rõ). Trong đó, đa phần các tranh chấp đều phát sinh từ việc sa thải lao động trái pháp luật.
Có thể thấy, sa thải trái pháp luật là một hành vi thường xảy ra trong quan hệ lao động hiện nay.
II. Quy định pháp luật về bị sa thải trái pháp luật
1. Trường hợp nào được xác định là bị sa thải trái pháp luật ?
Căn cứ theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động 2019. Người sử dụng lao động chỉ được sa thải người lao động trong các trường hợp sau:
“Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động”.
Như vậy, khi người sử dụng lao động sa thải người lao động không thuộc một trong các trường hợp quy định nêu trên thì được xác định là sa thải trái pháp luật.
2. Nhân viên bị sa thải trái pháp luật thì giải quyết thế nào?
Theo quy định của pháp luật khi bị sa thải trái pháp luật thì người lao động có thể lựa chọn một trong các cách thức sau đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết:
1. Khiếu nại
– Khiếu nại lần đầu: Tới người sử dụng lao động.
Nếu không được giải quyết hoặc việc giải quyết của người sử dụng lao động không thỏa đáng thì thực hiện khiếu nại lần hai.
– Khiếu nại lần hai: Tới Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
Căn cứ: khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 5 dẫn chiếu đến khoản 1, khoản 2 Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP, cụ thể như sau:
“Điều 5. Trình tự khiếu nại
1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của người sử dụng lao động; cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp; doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tổ chức dịch vụ việc làm, tổ chức có liên quan đến hoạt động tạo việc làm cho người lao động; tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người bị xâm phạm thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 15, khoản 1 Điều 16, khoản 1 Điều 17 và khoản 1 Điều 18 Nghị định này hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
2. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 23 hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 20 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có quyền khởi kiện tại tòa án theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định này hoặc thực hiện khiếu nại lần hai theo quy định sau đây:
a) Đối với khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định này;
…
Điều 15. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động
1. Người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về lao động, an toàn, vệ sinh lao động của mình bị khiếu nại.
2. Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại về lao động, an toàn, vệ sinh lao động khi người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu theo quy định tại Điều 23 hoặc đã hết thời hạn quy định tại Điều 20 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết”.
2: Khởi kiện tại Tòa án
Theo Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 và quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, với tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải, người lao động có thể trực tiếp khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

3. Công ty sa thải nhân viên trái pháp luật thì có bị phạt không?
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP như sau:
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
...
đ) Xử lý kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại không đúng trình tự; thủ tục; thời hiệu theo quy định của pháp luật;
Như vậy, người sử dụng lao động có quyền sa thải người lao động khi người lao động đó vi phạm các trường hợp bị kỷ luật sa thải, đồng thời việc sa thải người lao động phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Nếu sa thải bằng miệng hay hình thức khác không đúng quy định pháp luật, người sử dụng lao động có thể bị phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng.
III. Một số thắc mắc về bị sa thải trái pháp luật
1. Nhân viên bị sa thải trái pháp luật có được bồi thường không? Nếu có, mức bồi thường là bao nhiêu? Cơ sở xác định mức bồi thường?
Đối với việc sa thải trái pháp luật được hành vi xử lý kỷ luật lao động trái pháp luật của người sử dụng lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người lao động. Về nguyên tắc, khi gây thiệt hại và xâm phạm đến quyền lợi của người khác thì phải bồi thường.
Căn cứ Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp buộc phải nhận lại người lao động, đồng thời phải thanh toán cho người lao động những khoản tiền sau:
- Trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc.
- Trả thêm ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động.
Nếu người lao động không muốn làm việc tại doanh nghiệp đó nữa thì ngoài 02 khoản tiền được bồi thường trên, người lao động còn được trả trợ cấp thôi việc.
Các khoản tiền nêu trên là các khoản tiền mang tính chất bồi thường cho người lao động khi bị thiệt hại về thu nhập và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp.
Như vậy, nhân viên bị sa thải trái pháp luật được bồi thường dựa trên tiền lương theo hợp đồng lao động và giá trị bồi thường được thực hiện theo quy định pháp luật nêu trên.
2. Trường hợp khiếu nại do bị sa thải trái pháp luật nhưng không được giải quyết thì nhân viên có được khởi kiện không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thi người lao động có quyền trực tiếp khởi kiện trong trường hợp bị sa thải trái pháp luật mà không cần thông qua thủ tục hòa giải.
Mặt khác, việc khiếu nại khi bị sa thải trái pháp luật không phải là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện trong trường hợp bị sa thải trái pháp luật.
Như vậy, trường hợp khiếu nại do bị sa thải trái pháp luật nhưng không được giải quyết thì nhân viên được khởi kiện lên Tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
3. Trách nhiệm của công ty khi sa thải nhân viên trái pháp luật?
Căn cứ Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, quy định về trách nhiệm của công ty khi sa thải nhân viên trái pháp luật gồm:
- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 để chấm dứt hợp đồng lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
4. Người lao động bị sa thải trái pháp luật có thể khởi kiện không?
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
“1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
…”
Như vậy, người lao động có thể khởi kiện người sử dụng lao động khi cho rằng mình bị sa thải trái pháp luật.
5. Bị sa thải trái pháp luật thì người lao động được bồi thường những gì?
Đối với việc sa thải trái pháp luật được coi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.
Căn cứ Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp buộc phải nhận lại người lao động, đồng thời phải bồi thường cho người lao động những khoản tiền sau:
- Trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc.
- Trả thêm ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động.
Nếu người lao động không muốn làm việc tại doanh nghiệp đó nữa thì ngoài 02 khoản tiền được bồi thường trên, người lao động còn được trả trợ cấp thôi việc.
6. Doanh nghiệp sẽ bị xử lý như thế nào nếu sa thải người lao động trái pháp luật?
Căn cứ theo điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về mức phạt hành chính cho doanh nghiệp sa thải người lao động để né thưởng Tết như sau:
“3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:
...
c) Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không quy định;
...”
Như vậy, công ty ra quyết định sa thải trái pháp luật có thể bị xử phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Theo đó căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP thì mức phạt tiền nêu trên áp dụng đối người sử dụng lao động là cá nhân vi phạm, nếu là tổ chức thì mức phạt sẽ gấp đôi.

IV. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn về vấn đề bị sa thải trái pháp luật
Hiểu được nhu cầu tìm hiểu pháp lý về trường hợp bị sa thải trái luật của Quý Khách hàng, Hãng luật NPLaw với bề dày kinh nghiệm trong đa dạng lĩnh vực sẽ hỗ trợ, tư vấn cho Quý Khách hàng các vấn đề liên quan đến trường hợp bị sa thải trái pháp luật. Quý độc giả có thể liên hệ ngay tới NPLaw để được các luật sư dày dặn kinh nghiệm của NPLaw tư vấn tận tình và nhanh chóng với thông tin liên hệ dưới đây: