Theo quy định pháp luật, danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị vô cùng thiêng liêng và bất khả xâm phạm của mỗi cá nhân, tổ chức. Mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây của NPLaw để tìm hiểu thêm quy định về bồi thường thiệt hại về danh dự hiện nay nhé.
I. Thực trạng liên quan đến bồi thường thiệt hại về danh dự
Trong thực tiễn, nhiều cá nhân và tổ chức đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh tiếng và uy tín bởi những phát ngôn sai sự thật, hành vi bôi nhọ công khai hoặc lan truyền thông tin thiếu kiểm chứng, đặc biệt trên mạng xã hội. Tuy nhiên, không ít trường hợp người bị thiệt hại chưa biết cách bảo vệ mình hoặc chưa am hiểu quy trình pháp lý để yêu cầu bồi thường. Khi danh dự bị tổn hại, không chỉ cuộc sống cá nhân, công việc mà cả tinh thần của người bị xâm phạm đều chịu ảnh hưởng nặng nề. Điều này cho thấy nhu cầu hiểu biết pháp luật và sử dụng công cụ pháp lý để bảo vệ danh dự là rất cấp thiết.

II. Quy định của pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại về danh dự
1. Bồi thường thiệt hại về danh dự là gì?
Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác theo Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo đó, bồi thường thiệt hại về danh dự được hiểu là việc cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân hoặc pháp nhân khác, gây ra những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần, phải thực hiện nghĩa vụ bù đắp những tổn thất đó theo quy định của pháp luật.
2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Như vậy, người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định trên.
3. Việc xác định bồi thường thiệt hại về danh dự được thực hiện như thế nào?
Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được xác định theo khoản 1 Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 (hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP) nnhư sau:
- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại, gồm: Chi phí cần thiết cho việc thu hồi, xóa bỏ vật phẩm, ấn phẩm, dữ liệu có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi người bị thiệt hại chi trả để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút: Trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
Việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP như sau:
- Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút.
- Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.
Như vậy, chủ thể vi phạm gây thiệt hại về danh dự của người khác thì có nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại được xác định theo quy định trên.
4. Bồi thường thiệt hại về danh dự được quy định như thế nào?
Bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định cụ thể trong pháp luật về dân sự, đặc biệt tại các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Bộ luật Dân sự 2015 (ví dụ Điều 34 về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, Điều 584 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Điều 592 về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm)
- Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 9).
Quy định pháp luật trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín.
III. Giải đáp các thắc mắc liên quan đến bồi thường thiệt hại về danh dự
1. Mức bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là bao nhiêu?
Mức bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được xác định trên các thiệt hại thực tế gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; Thiệt hại khác do luật quy định (khoản 1 Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015, hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP).
Đồng thời, người chịu trách nhiệm bồi phải bồi thường thiệt hại thêm một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu.

Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015).
Như vậy, chủ thể vi phạm gây thiệt hại về danh dự của người khác thì có nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại được xác định theo quy định trên.
2. Có thể khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về danh dự nếu bị bôi nhọ trên mạng xã hội không?
Theo khoản 1 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”. Đồng thời, Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Như vậy, khi bị bôi nhọ trên mạng xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bồi thường, bảo vệ quyền lợi của mình.
3. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại về danh dự?
Khi có tranh chấp về bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định hiện nay bao gồm:
- Tòa án nhân dân: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bao gồm bồi thường về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
- Cơ quan công an: trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (ví dụ: Tội vu khống theo Điều 156, tội làm nhục người khác theo Điều 155...), cơ quan công an có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự.
Thẩm quyền giải quyết hành vi xâm phạm danh dự phù hợp sẽ phụ thuộc vào bản chất, mức độ nghiêm trọng của từng hành vi cụ thể.
4. Người gây thiệt hại chưa thành niên có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về danh dự không?
Theo khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 (hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP) về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân: “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
Như vậy, người chưa thành niên gây thiệt hại về danh dự mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người chưa thành niên để bồi thường; nếu người chưa thành niên không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
5. Bồi thường thiệt hại về danh dự có được miễn trừ trong các trường hợp phát ngôn vì lợi ích công cộng không?
Theo khoản 1 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”. Phát ngôn vì lợi ích công cộng là một quyền quan trọng và được khuyến khích, nhưng quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Người phát ngôn phải có trách nhiệm kiểm chứng thông tin trước khi phát ngôn. Nếu thông tin được phát tán là sai sự thật, gây thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, thì người gây thiệt hại vẫn có nghĩa vụ phải bồi thường theo quy định.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến bồi thường thiệt hại về danh dự
Trên đây là bài viết của NPLaw về bồi thường thiệt hại về danh dự hiện nay. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.