Hôn nhân thực tế – mối quan hệ vợ chồng phát sinh trên thực tế mà không có đăng ký kết hôn – là một hiện tượng xã hội tồn tại khá phổ biến trong đời sống dân cư tại Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa hoặc trong các cộng đồng dân tộc thiểu số. Mặc dù không được pháp luật công nhận đầy đủ như một cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng mối quan hệ này vẫn phát sinh nhiều hệ quả pháp lý, đặc biệt khi các bên chấm dứt quan hệ sống chung. Việc giải quyết các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản, con chung, và trách nhiệm pháp lý đặt ra không ít khó khăn và tranh cãi. Trong bài viết này NPLaw sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên liên quan.
I. Khái niệm chấm dứt hôn nhân thực tế
Khái niệm “hôn nhân thực tế” thường xuất hiện trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Hiện nay các văn bản pháp luật hiện hành chưa có định nghĩa cụ thể về khái niệm này. Nhưng về bản chất đây là mối quan hệ giữa nam và nữ cùng sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, dù cả hai có đủ điều kiện để thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Chấm dứt hôn nhân thực tế là việc kết thúc mối quan hệ chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ mà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mặc dù quan hệ hôn nhân thực tế không được pháp luật công nhận là một cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng khi mối quan hệ này chấm dứt, vẫn phát sinh các vấn đề pháp lý liên quan như chia tài sản, nuôi con chung hoặc giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
II. Quy định pháp luật về chấm dứt hôn nhân thực tế
1. Các trường hợp chấm dứt hôn nhân thực tế
Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa coi hôn nhân thực tế là một quan hệ hôn nhân hợp pháp vì không thực hiện đăng ký kết hôn. Do đó, mối quan hệ này không có ràng buộc pháp lý rõ ràng dẫn đến một số trường hợp chấm dứt hôn nhân thực tế thường xảy ra như sau:
- Một trong hai bên đăng ký kết hôn với người khác. Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hai người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này, sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vậy nên, nếu một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân thực tế trước đó sẽ bị chấm dứt.
- Hai bên chấm dứt việc sống chung như vợ chồng. Khi hai bên không còn duy trì quan hệ sống chung, không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm như vợ chồng thì quan hệ hôn nhân thực tế sẽ được coi là chấm dứt.
- Một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Căn cứ Điều 71 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định người bị Tòa án tuyên bố đã chết khi mất tích 3 năm và có yêu cầu từ người thân thích. Khi đã có quyết định của Tòa Án tuyên bố một bên đã chết thì quan hệ vợ chồng thực tế cũng chấm dứt theo tại thời điểm này.
2. Giải quyết hậu quả pháp lý khi chấm dứt hôn nhân thực tế
Quan hệ hôn nhân thực tế không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp do thiếu thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, khi mối quan hệ này chấm dứt vẫn phát sinh nhiều hậu quả pháp lý cần giải quyết nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
- Về tài sản chung: Nếu hai bên có tài sản chung hình thành trong thời gian sống chung như vợ chồng, thì tài sản đó được xem xét chia theo nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên, hoàn cảnh cụ thể và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em. Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thì trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc chia tài sản, Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ và tình trạng sở hữu để giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật dân sự.
- Về con chung: Khi hai bên chấm dứt hôn nhân thực tế thì việc xác định quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng và chăm sóc được giải quyết tương tự như các vụ án ly hôn, quy định cụ thể tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp con chưa đến tuổi vị thành niên hoặc mất hành vi năng lực dân sự, Tòa án sẽ xem xét các quyền lợi để giao con cho bố hoặc mẹ nuôi dưỡng và người còn lại sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng, thăm nom.
3. Thủ tục pháp lý yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt hôn nhân thực tế
Tuy hôn nhân thực tế là mối quan hệ không ràng buộc về mặt pháp lý, nhưng khi chấm dứt mối quan hệ sẽ phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản và con chung cần Tòa án giải quyết. Sau đây là một số thủ tục pháp lý cần thiết khi yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt hôn nhân thực tế khi phát sinh tranh chấp về tài sản và quyền nuôi con chung:
Bước 1: Người yêu cầu cần chuẩn bị hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:
- Đơn yêu cầu giải quyết chấm dứt quan hệ sống chung như vợ chồng.
- Giấy tờ tùy thân và sổ hộ khẩu của hai bên.
- Giấy khai sinh của con chung, Tài liệu liên quan đến tài sản chung (nếu có).
- Tài liệu chứng minh có thời gian sống chung( lời khai nhân chứng, xác nhận của chính quyền địa phương, …).
Bước 2: Nộp hồ sơ tại Tòa án có thẩm quyền. Theo Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên.
Bước 3: Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc
4. Các vấn đề pháp lý cần lưu ý liên quan chấm dứt hôn nhân thực tế
Hôn nhân thực tế không được pháp luật công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vì vậy, khi chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế cần lưu ý một số điều sau đây:
- Hôn nhân thực tế không có ràng buộc về mặt pháp lý nên hai bên không có quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định. Do đó, trong trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết thì bên còn lại sẽ không có quyền thừa kế theo quy định pháp luật. Trừ trường hợp có di chúc hợp pháp thì người còn sống sẽ được hưởng phần tài sản thừa kế theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế. Trong thời gian sống chung cần lưu giữ tài liệu chứng minh tài sản chung. Bởi vì, nếu không chứng minh được tài sản được hình thành trong thời gian sống chung thì Tòa án có thể xem đó là tài sản riêng và không giải quyết tranh chấp.
III. Giải đáp một số câu hỏi về chấm dứt hôn nhân thực tế
1. Sự khác biệt cơ bản giữa hôn nhân thực tế và hôn nhân có đăng ký là gì? Tại sao pháp luật lại có sự phân biệt này?
Hôn nhân thực tế là mối quan hệ giữa nam và nữ cùng sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, dù cả hai có đủ điều kiện để thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Hôn nhân có đăng ký là mối quan hệ giữa một nam và một nữ được xác lập hợp pháp khi hai người kết hôn theo quy định của pháp luật và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Sau đây là một số khác biệt cơ bản giữa hôn nhân thực tế và hôn nhân có đăng ký:
Về tính hợp pháp:
- Hôn nhân thực tế không được coi là hợp pháp.
- Hôn nhân có đăng ký được đăng ký theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Về quyền và nghĩa vụ vợ chồng:
- Hôn nhân thực tế: các bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Hôn nhân có đăng ký: các bên phát sinh quyền và nghĩa vụ đầy đủ giữa vợ và chồng theo quy định pháp luật.
Hình thức giải quyết khi chấm dứt quan hệ:
- Hôn nhân thực tế không được giải quyết theo thủ tục ly hôn mà chỉ giải quyết theo quy định về hậu quả của việc sống chung không đăng ký kết hôn.
- Hôn nhân có đăng ký được giải quyết theo thủ tục ly hôn theo quy định pháp luật.
Về quyền thừa kế:
- Hôn nhân thực tế: vợ hoặc chồng không có quyền thừa kế trừ trường hợp có di chúc hợp pháp.
- Hôn nhân có đăng ký: vợ hoặc chồng được hưởng quyền thừa kế theo quy định pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Về tài sản chung:
- Hôn nhân thực tế: khi chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế phải xem xét tài sản hình thành trong thời gian có phải tài sản chung hay không, nếu không chứng minh được thì sẽ được coi là tài sản riêng
- Hôn nhân có đăng ký: khi chấm dứt quan hệ hôn nhân thì tài sản trong hôn nhân sẽ được coi là tài sản chung và được chia theo quy định pháp luật.
Từ các yếu tố khác biệt nêu trên cho thấy pháp luật quy định sự khác biệt giữa hôn nhân thực tế và hôn nhân có đăng ký là để đảm bảo tính pháp lý, quản lý trật tự xã hội, tránh hành vi gian dối lạm dụng quan hệ hôn nhân, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
2. Những hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nào có thể là căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt hôn nhân thực tế?
Dù quan hệ hôn nhân thực tế không có đăng ký kết hôn, nhưng những hành vi vi phạm quyền nghĩa vụ của vợ chồng sau đây có thể là căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt hôn nhân thực tế:
- Hành vi bạo lực gia đình: Đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền nhân thân. Hành vi này có thể là căn cứ để yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu chấm dứt quan hệ và xử lý hậu quả pháp lý.
- Hành vi lừa dối, cưỡng ép khi sống chung: Nếu phát hiện một trong hai bên đã có vợ hoặc chồng hợp pháp thì đây được coi hành vi dối trá về tình trạng hôn nhân, pháp lý. Khi đó, mối quan hệ hôn nhân thực tế sẽ phải chấm dứt do vi phạm chế độ một vợ một chồng theo pháp luật quy định.
- Hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng: Điều này gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người còn lại. Do đó, bên còn lại có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ và xử lý hậu quả pháp lý.
3. Những yếu tố nào được xem xét để chứng minh sự tồn tại của quan hệ hôn nhân thực tế?
Căn cứ Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 thì để được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp khi không đăng ký kết hôn thì phải thoả mãn được hai yếu tố sau:
- Hai bên đã có thời gian chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987
- Hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau, việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận, việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Như vậy, nếu có đủ các yếu tố nêu trên thì quan hệ hôn nhân thực tế sẽ được xem xét chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ này.
4. Hôn nhân thực tế chấm dứt khi nào theo pháp luật hiện hành?
Theo pháp luật hiện hành, hôn nhân thực tế chấm dứt khi một trong hai bên đăng ký kết hôn với người khác. Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hai người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này, sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vậy nên, nếu một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân thực tế trước đó sẽ bị chấm dứt.
Ngoài ra, nếu một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Căn cứ Điều 71 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định người bị Tòa án tuyên bố đã chết khi mất tích 3 năm và có yêu cầu từ người thân thích. Khi đã có quyết định của Tòa Án tuyên bố một bên đã chết thì quan hệ vợ chồng thực tế cũng chấm dứt theo tại thời điểm này.
5. Thủ tục pháp lý để chấm dứt hôn nhân thực tế được thực hiện như thế nào?
Trước pháp luật, việc chấm dứt ly hôn thực tế không cần phải thực hiện thủ tục ly hôn chính thức theo quy định. Chỉ khi phát sinh tranh chấp về tài sản và quyền nuôi con chung thì các bên cần làm thủ tục yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau đây là một số thủ tục pháp lý cần thiết:

Bước 1: Người yêu cầu cần chuẩn bị hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:
- Đơn yêu cầu giải quyết chấm dứt quan hệ sống chung như vợ chồng.
- Giấy tờ tùy thân và sổ hộ khẩu của hai bên.
- Giấy khai sinh của con chung, Tài liệu liên quan đến tài sản chung (nếu có).
- Tài liệu chứng minh có thời gian sống chung( lời khai nhân chứng, xác nhận của chính quyền địa phương, …).
Bước 2: Nộp hồ sơ tại Tòa án có thẩm quyền. Theo Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên.
Bước 3: Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về chấm dứt hôn nhân thực tế
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về chấm dứt hôn nhân thực tế mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ ngay với NPLaw.