I. Nhu cầu đầu tư giáo dục hiện nay của nhà đầu tư
Nhu cầu đầu tư giáo dục tại Việt Nam đang tăng mạnh, đặc biệt là từ các nhà đầu tư nước ngoài. Sự gia tăng đầu tư trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, đại học và đào tạo kỹ năng, cùng với các cơ hội mở rộng trong giáo dục tư nhân, đã tạo ra tiềm năng lớn. Chính phủ cũng cam kết phát triển giáo dục chất lượng cao, nâng cao cơ hội và môi trường đầu tư trong lĩnh vực này.
II. Quy định pháp luật về đầu tư giáo dục của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1. Nhà đầu tư nước ngoài có được đầu tư giáo dục vào Việt Nam không?
Nhà đầu tư thực hiện hoạt động trong lĩnh vực đầu tư giáo dục theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Giáo dục 2019 như sau:
Nhà đầu tư
1. Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bao gồm:
a) Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam;
b) Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài.
...

Căn cứ trên quy định nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục bao gồm:
- Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam;
- Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài.
Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài, là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, có quyền thực hiện hoạt động đầu tư giáo dục tại Việt Nam.
2. Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư giáo dục vào Việt Nam theo hình thức nào?
Căn cứ khoản 3 Điều 108 Luật Giáo dục 2019 quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục như sau:
- Các hình thức hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục tại Việt Nam bao gồm:
+ Liên kết giáo dục, đào tạo;
+ Thành lập văn phòng đại diện;
+ Thành lập phân hiệu;
+ Thành lập cơ sở giáo dục;
+ Các hình thức hợp tác, đầu tư khác.
- Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Như vậy, các hình thức hợp tác và đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam bao gồm: liên kết giáo dục, thành lập văn phòng đại diện, phân hiệu, cơ sở giáo dục, và các hình thức hợp tác, đầu tư khác.
3. Các lĩnh vực trong giáo dục mà nhà đầu tư nước ngoài bị cấm đầu tư vào Việt Nam?
Hiện tại, pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về các lĩnh vực giáo dục mà nhà đầu tư nước ngoài bị cấm đầu tư. Trái lại, nhà đầu tư nước ngoài có quyền tham gia đầu tư vào hầu hết các lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam, bao gồm cả giáo dục mầm non, phổ thông, đại học và đào tạo nghề.
Tuy nhiên, việc đầu tư phải tuân thủ các quy định về tỷ lệ sở hữu, hình thức đầu tư và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục theo quy định của pháp luật Việt Nam. Một số lĩnh vực giáo dục đặc thù mà nhà đầu tư nước ngoài có thể không được phép tham gia bao gồm:
- Giáo dục chính trị: Các chương trình giáo dục liên quan đến chính trị và tư tưởng nhà nước.
- Giáo dục quốc phòng: Các chương trình đào tạo về quốc phòng và an ninh quốc gia.
- Giáo dục pháp luật: Các hoạt động đào tạo liên quan đến việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề pháp lý đặc thù của Việt Nam.
Chính phủ sẽ cụ thể hóa các quy định về hạn chế này trong các văn bản hướng dẫn chi tiết.
III. Giải đáp một số câu hỏi về quy định đầu tư giáo dục
1. Nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư giáo dục vào Việt Nam bằng tiền đô không?
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 86/2018/NĐ-CP về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về tài chính, kế toán, kiểm toán và thuế. Điều này bao gồm việc sử dụng đồng Việt Nam (VND) trong các giao dịch tài chính tại Việt Nam.
Mặc dù không có quy định cấm sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế, nhưng khi thực hiện các giao dịch tài chính tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ quy định về sử dụng đồng Việt Nam.
Nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư vào lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam bằng đô la Mỹ (USD). Pháp luật Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài sử dụng ngoại tệ chuyển từ nước ngoài vào để thực hiện các hoạt động đầu tư, bao gồm góp vốn, mua cổ phần và tài trợ cho dự án. Việc chuyển tiền phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ngoại hối và đầu tư nước ngoài.
Nhà đầu tư cần mở tài khoản vốn bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối tại Việt Nam và thực hiện các giao dịch qua tài khoản này để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.

Do đó, việc đầu tư giáo dục vào Việt Nam bằng tiền đô (USD) có thể thực hiện trong các giao dịch quốc tế, nhưng khi thực hiện các giao dịch tài chính tại Việt Nam, nhà đầu tư cần chuyển đổi sang đồng Việt Nam và tuân thủ các quy định liên quan đến tài chính và thuế.
2. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư giáo dục?
Theo Điều 40 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về thẩm quyền cho phép cấp giấy phép đầu tư giáo dục như sau:
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp phép hoạt động cho các cơ sở giáo dục cấp đại học và phân hiệu của cơ sở giáo dục cấp đại học có vốn đầu tư nước ngoài;
- Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo cấp phép cho: Cơ sở giáo dục mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và Phổ thông có nhiều cấp học. Thêm nữa là các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn. Cuối cùng là với các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông do cơ quan đại diện ngoại giao của tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế Liên Chính phủ thành lập.
3. Điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư giáo dục vào Việt Nam?
Pháp luật Việt Nam hiện tại cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư giáo dục theo rất nhiều loại hình, tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng được những điều kiện sau đây:
-
Điều kiện về vốn;
-
Điều kiện về cơ sở vật chất;
-
Điều kiện về nội dung chương trình đào tạo;
Cụ thể như sau:
* Về vốn
Tùy theo loại hình cơ sở giáo dục, mức vốn đầu tư tối thiểu được quy định như sau:
- Cơ sở giáo dục mầm non: Suất đầu tư ít nhất 30 triệu đồng/trẻ, tổng vốn đầu tư không thấp hơn 50 tỷ đồng.
- Cơ sở giáo dục phổ thông: Suất đầu tư ít nhất 50 triệu đồng/học sinh, tổng vốn đầu tư không thấp hơn 50 tỷ đồng.
- Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn: Suất đầu tư ít nhất 20 triệu đồng/học viên, tổng vốn đầu tư căn cứ vào quy mô dự kiến.
- Cơ sở giáo dục đại học: Tổng vốn đầu tư tối thiểu 1.000 tỷ đồng, với ít nhất 500 tỷ đồng thực hiện đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập.
- Phân hiệu cơ sở giáo dục đại học: Tổng vốn đầu tư tối thiểu 250 tỷ đồng, với ít nhất 150 tỷ đồng thực hiện đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập phân hiệu.
Nếu không xây dựng cơ sở mới mà chỉ thuê lại hoặc sử dụng cơ sở vật chất sẵn có, mức đầu tư tối thiểu phải đạt ít nhất 70% mức quy định trên.
* Về cơ sở vật chất, thiết bị
Theo Điều 36 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về cơ sở vật chất, thiết bị như sau:
Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn:
- Có phòng học phù hợp về ánh sáng, bàn ghế, thiết bị, đồ dùng giảng dạy;
- Có diện tích dùng cho học tập, giảng dạy bảo đảm ở mức bình quân ít nhất là 2,5 m2/người học đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn;
- Có văn phòng của ban giám đốc, lãnh đạo, phòng giáo viên, thư viện và các phòng chức năng khác.
Đối với cơ sở giáo dục mầm non:
- Trường tập trung tại một địa điểm, có môi trường tốt. Diện tích mặt bằng xây dựng trường được xác định trên cơ sở số nhóm lớp, số trẻ với bình quân
- Có phòng học, phòng ngủ của trẻ và các phòng chức năng phù hợp về diện tích, ánh sáng, bàn ghế, thiết bị, đồ dùng chăm sóc và giáo dục trẻ;
- Có văn phòng nhà trường, phòng ban giám hiệu, phòng hành chính quản trị, phòng y tế, phòng bảo vệ, phòng dành cho nhân viên phù hợp về diện tích, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ;
- Có hệ thống nước sạch, hệ thống thoát nước, phòng vệ sinh phù hợp, có thiết bị vệ sinh bảo đảm an toàn, sạch sẽ, đáp ứng mọi sinh hoạt của trường;
- Có nhà bếp được tổ chức theo quy trình hoạt động một chiều với các thiết bị, đồ dùng phù hợp, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nếu trường tổ chức nấu ăn cho trẻ
- Trong khu vực trường có cây xanh. Toàn bộ các thiết kế xây dựng và trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của trường phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho trẻ.
Đối với cơ sở giáo dục phổ thông:
- Trường tập trung tại một địa điểm, có môi trường tốt. Diện tích mặt bằng xây dựng trường được xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh và đặc điểm vùng miền
- Có diện tích dùng cho học tập, giảng dạy bảo đảm mức bình quân ít nhất là 2,5 m2/học sinh;
- Có văn phòng nhà trường, ban giám hiệu, phòng giáo viên, phòng họp phù hợp;
- Có phòng học bộ môn (đối với trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông), thư viện, bàn ghế, thiết bị, đồ dùng giảng dạy, bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Có phòng tập thể dục đa năng, phòng giáo dục nghệ thuật, phòng tin học, phòng hỗ trợ giáo dục học sinh tàn tật, khuyết tật học hòa nhập, phòng y tế học đường. Có nhà ăn, phòng nghỉ trưa nếu tổ chức học bán trú;
- Có hệ thống nước sạch, nhà vệ sinh phù hợp với quy mô của cơ sở giáo dục, bảo đảm các điều kiện về tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Có sân chơi, bãi tập, khu để xe với diện tích ít nhất bằng 30% tổng diện tích mặt bằng của trường. Có tường bao quanh khu vực trường, có cổng trường với biển trường ghi rõ tên trường theo quy định tại Điều 29 Nghị định này.
* Về chương trình giáo dục và đội ngũ nhà giáo
Căn cứ Điều 37 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về chương trình giáo dục như sau:
- Chương trình giáo dục thực hiện tại cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài phải thể hiện mục tiêu giáo dục, không có nội dung gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử; không ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và phải bảo đảm điều kiện liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo.
- Cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức giảng dạy:
- Chương trình giáo dục của Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục phổ thông của nước ngoài đối với các cơ sở giáo dục quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Nghị định này;
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn của nước ngoài; chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ của nước ngoài trong khuôn khổ các liên kết đào tạo với nước ngoài.
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nội dung giáo dục, đào tạo bắt buộc đối với người học là công dân Việt Nam học tập trong các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục đại học và phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo Điều 38 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về đội ngũ nhà giáo như sau:
Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn:
- Giáo viên ít nhất phải có trình độ cao đẳng hoặc tương đương, có ngành đào tạo phù hợp với chuyên môn được phân công giảng dạy;
- Tỷ lệ học viên/giáo viên quy đổi tối đa là 25 học viên/giáo viên.
Đối với cơ sở giáo dục mầm non:
- Giáo viên ít nhất phải có trình độ cao đẳng sư phạm mầm non hoặc tương đương;
- Số trẻ em tối đa trong 01 nhóm hoặc lớp
Đối với cơ sở giáo dục phổ thông:
- Giáo viên ít nhất phải có trình độ đại học sư phạm hoặc tương đương;
- Số lượng giáo viên ít nhất phải bảo đảm tỷ lệ: 1,5 giáo viên/lớp đối với trường tiểu học, 1,95 giáo viên/lớp đối với trường trung học cơ sở và 2,25 giáo viên/lớp đối với trường trung học phổ thông;
- Số lượng học sinh/lớp không vượt quá 30 học sinh/lớp đối với trường tiểu học, 35 học sinh/lớp đối với trường trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Đối với cơ sở giáo dục đại học:
- Giảng viên ít nhất phải có trình độ thạc sĩ trở lên trong đó tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ không ít hơn 50% tổng số giảng viên, trừ những ngành đào tạo đặc thù do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét quyết định;
- Tỷ lệ sinh viên/giảng viên tối đa là 10 sinh viên/giảng viên đối với các ngành đào tạo năng khiếu, 15 sinh viên/giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học kỹ thuật và công nghệ, 25 sinh viên/giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học xã hội, nhân văn và kinh tế - quản trị kinh doanh;
- Cơ sở giáo dục phải có đủ số lượng giảng viên cơ hữu để đảm nhận ít nhất 60% khối lượng chương trình của mỗi ngành đào tạo;
- Giảng viên là người nước ngoài giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài phải có kinh nghiệm giảng dạy đại học trong cùng lĩnh vực giảng dạy trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản này;
- Giảng viên là người bản ngữ nước ngoài dạy kỹ năng ngoại ngữ tại cơ sở giáo dục đại học phải có bằng đại học trở lên và có chứng chỉ giảng dạy ngoại ngữ phù hợp.
4. Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư giáo dục tại Việt Nam là bao lâu?
Căn cứ Điều 30 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về thời hạn hoạt động như sau:
Thời hạn hoạt động
Thời hạn hoạt động của cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài không quá 50 năm, tính từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng không dài hơn thời hạn thuê đất.

Như vậy, dự án đầu tư giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài có thời hạn hoạt động tối đa không quá 50 năm. Thời hạn được tính từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng không dài hơn thời hạn thuê đất.
5. Nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển nhượng dự án đầu tư giáo dục không?
Nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển nhượng dự án đầu tư giáo dục tại Việt Nam, nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo Điều 46 Luật Đầu tư 2020, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác, bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, với điều kiện:
(1) Dự án đầu tư hoặc phần dự án đầu tư chuyển nhượng không bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 48 Luật này.
(2) Nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng dự án đầu tư phải đáp ứng điều kiện sau:
- Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 9 của Luật này.
- Bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật này.
- Quy định của pháp luật về đất đai về điều kiện nhận quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, xã, phường, thị trấn ven biển.
(3) Điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
(4) Điều kiện theo quy định của pháp luật về nhà ở, pháp luật về kinh doanh bất động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án bất động sản.
(5) Điều kiện quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan (nếu có).
Lưu ý: Khi chuyển nhượng dự án đầu tư, ngoài việc thực hiện theo quy định tại Điều này, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp trước khi thực hiện việc điều chỉnh dự án đầu tư.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về quy định đầu tư giáo dục
Dịch vụ tư vấn đầu tư giáo dục của NP Law giúp nhà đầu tư nắm rõ quy định pháp luật về điều kiện, lĩnh vực được phép, hình thức đầu tư, thủ tục cấp phép và chuyển nhượng dự án. Chúng tôi đồng hành đảm bảo quá trình đầu tư diễn ra đúng quy định, hiệu quả và an toàn pháp lý.