I. Vai trò của đầu tư vàng

Đầu tư vàng có thể mang lại nhiều lợi ích, như bảo vệ trước sự suy thoái kinh tế, tiềm năng tăng trưởng lâu dài, tính thanh khoản cao và giá trị khan hiếm của vàng. Đầu tư vàng luôn được đánh giá là hình thức đầu tư tiềm năng và có tính an toàn cao, thị trường vàng không có quá nhiều biến động nên khi đầu tư vàng sẽ ít gặp những rủi ro biến động về giá. Ngoài ra, có thể được xem là một hình thức tiết kiệm tiền tệ bị động, nhưng khác nhau với tiền tệ chính là tiền có thể bị mất giá còn vàng thì không. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!

II. Quy định pháp luật về đầu tư vàng

1. Đầu tư vàng là gì?

Pháp luật đầu tư hiện hành không có quy định cụ thể về đầu tư vàng, tuy nhiên có thể hiểu đầu tư là việc cá nhân, tổ chức đưa các loại tài sản vào làm vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đầu tư vàng là một lĩnh vực ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định tại Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phục lục IV Luật Đầu tư 2020.

2. Điều kiện để đầu tư vàng hợp pháp tại Việt Nam?

Đối với hoạt động kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ theo Điều 5 và Điều 8 Nghị định 24/2012/NĐ-CP quy định điều kiện như sau:

  • Doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

- Có địa điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

  • Doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

- Có địa điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ.

Như vậy, kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện, tuy nhiên chỉ cần có đăng ký kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là được hoạt động mua bán loại vàng này, còn nếu doanh nghiệp sản xuất thì phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Đối với hoạt động đầu tư kinh doanh vàng miếng theo quy định tại Điều 10, 11 Nghị định 24/2012/NĐ-CP điều kiện như sau:

- Hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

- Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

b) Có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên.

c) Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 (hai) năm trở lên.

d) Có số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 (năm trăm) triệu đồng/năm trở lên trong 2 (hai) năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế).

đ) Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 (ba) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Có vốn điều lệ từ 3.000 (ba nghìn) tỷ đồng trở lên.

b) Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng.

c) Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 05 (năm) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Như vậy, điều kiện kinh doanh vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng. Còn doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức thì chỉ cần có đăng ký kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

3. Quy định về thuế và giao dịch vàng?

Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, thuế giá trị gia tăng (GTGT) được áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam. Đối tượng chịu thuế GTGT bao gồm tất cả hàng hóa và dịch vụ, trừ những trường hợp ngoại lệ mà pháp luật quy định. Vàng được coi là hàng hóa chịu thuế GTGT theo quy định pháp luật, việc áp dụng thuế có thể khác nhau tùy thuộc vào loại vàng cụ thể và mục đích sử dụng.

Theo khoản 22 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC và khoản 22 Điều 5 Luật Thuế Giá trị gia tăng 2008 (sđ, bs bởi khoản 1 Điều 3 Luật sửa đổi các Luật về thuế 2014), vàng nhập khẩu dưới dạng thỏi hoặc miếng, cũng như các loại vàng chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ nghệ hoặc đồ trang sức, sẽ không chịu thuế GTGT. Theo đó, vàng nguyên liệu (vàng thỏi, vàng miếng) thường không chịu thuế GTGT, tuy nhiên, các sản phẩm vàng trang sức, vàng chế tác, hoặc vàng đã qua gia công thường phải chịu thuế GTGT.

Theo Điều 11 Luật Thuế Giá trị gia tăng 2008 (sđ, bs bởi khoản 5 Điều 1 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2013), thuế suất đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý là 10%.

III. Giải đáp một số câu hỏi về đầu tư vàng

1. Nhà đầu tư cá nhân có được phép mua bán vàng tài khoản không?

Hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản là hoạt động kinh doanh vàng qua tài khoản, dưới hình thức giao dịch ký quỹ và giá trị ròng được định giá lại liên tục theo biến động của giá vàng theo khoản 4 Điều 3 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP.

Căn cứ khoản 9 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP quy định hoạt động kinh doanh sàn giao dịch vàng, kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước và nước ngoài đều là hoạt động kinh doanh thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh.

Đến nay, Chính phủ chưa cho phép và Ngân hàng nhà nước cũng chưa cấp giấy phép cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản. Như vậy, mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước và nước ngoài khi chưa được phép đều vi phạm quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

2. Đầu tư vàng có cần kê khai thuế không?

Các doanh nghiệp sản xuất, mua bán vàng miếng, vàng trang sức, vàng nguyên liệu và các sản phẩm chứa vàng đều phải nộp thuế GTGT, doanh nghiệp cần kê khai để nộp thuế đúng quy định.

- Theo Điều 13 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, trường hợp Công ty có phát sinh hoạt động mua, bán vàng, bạc, đá quý thì Công ty phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

- Đối với hoạt động kinh doanh mua, bán các sản phẩm, hàng hóa khác (không phải vàng, bạc, đá quý) thì Công ty tính, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ theo hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

3. Các doanh nghiệp có thể nhập khẩu vàng không?

Tại Điều 14 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ và cung - cầu vàng trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp sau:

  • Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ cho doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
  • Doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm.
  • Hàng năm, Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu trong năm kế hoạch cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài căn cứ vào năng lực sản xuất và báo cáo tình hình xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ của năm trước.
  • Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực khai thác vàng có nhu cầu nhập khẩu vàng do doanh nghiệp khai thác ở nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu.

Như vậy, các doanh nghiệp có thể nhập khẩu vàng khi được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép nhập khẩu trong các trường hợp trên.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về đầu tư vàng

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về đầu tư vàng mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ với NPLaw theo thông tin liên hệ sau: