Hiện nay, nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật lao động ngày càng gia tăng do các doanh nghiệp và người lao động cần hiểu rõ quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Dịch vụ này bao gồm nhiều nội dung như tư vấn hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, xử lý kỷ luật… Việc cung cấp dịch vụ phải tuân thủ điều kiện pháp lý cụ thể và chỉ được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân đủ điều kiện theo quy định.
I. Nhu cầu tìm hiểu về dịch vụ tư vấn pháp luật lao động hiện nay
Hiện nay, nhu cầu tìm hiểu pháp luật lao động ngày càng tăng do hệ thống quy định pháp lý ngày một phức tạp và liên tục điều chỉnh. Cả người sử dụng lao động và người lao động đều quan tâm đến quyền, nghĩa vụ, cũng như cách thức xử lý các tình huống phát sinh trong quan hệ lao động. Việc nắm bắt đúng quy định giúp hạn chế rủi ro, bảo vệ quyền lợi và góp phần xây dựng môi trường làm việc ổn định, minh bạch.
II. Quy định pháp luật về dịch vụ tư vấn pháp luật lao động
1. Dịch vụ tư vấn pháp luật lao động có phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện không?
Dịch vụ tư vấn pháp luật lao động không được liệt kê cụ thể trong danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Phụ lục IV của Luật Đầu tư 2020. Tuy nhiên, hoạt động này thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư và được phân loại trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam với mã ngành 6910 – Hoạt động pháp luật, bao gồm các dịch vụ như đại diện, tư vấn pháp luật và chuẩn bị các tài liệu pháp lý.
Theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ngành nghề có chứa cụm từ “tư vấn pháp luật” hoặc “dịch vụ pháp lý” phải thực hiện đăng ký tại Sở Tư pháp và đảm bảo đủ điều kiện theo quy định của Luật Luật sư.

Do đó, mặc dù không được liệt kê cụ thể trong danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhưng để hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực tư vấn pháp luật lao động, tổ chức, cá nhân cần tuân thủ các điều kiện và thủ tục pháp lý theo quy định của Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn liên quan.
2. Dịch vụ tư vấn pháp luật lao động bao gồm những hoạt động cụ thể nào theo quy định?
Dịch vụ tư vấn pháp luật lao động bao gồm nhiều hoạt động cụ thể nhằm hỗ trợ các bên trong quan hệ lao động hiểu rõ và tuân thủ đúng quy định pháp luật. Theo quy định tại Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012), các hoạt động tư vấn pháp luật lao động thường bao gồm:
- Tư vấn về quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động;
- Tư vấn về soạn thảo, rà soát và đàm phán hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể;
- Tư vấn xử lý kỷ luật lao động, chấm dứt hợp đồng lao động, giải quyết tranh chấp lao động;
- Tư vấn về an toàn vệ sinh lao động, thời giờ làm việc – nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác;
- Đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng hoặc làm việc với cơ quan chức năng khi có tranh chấp lao động phát sinh.
Các hoạt động này chỉ được thực hiện hợp pháp khi người thực hiện có đủ điều kiện hành nghề luật sư hoặc thuộc tổ chức được cấp phép hành nghề dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật Luật sư.
3. Những tổ chức, cá nhân nào được phép thực hiện dịch vụ tư vấn pháp luật lao động?
Căn cứ Điều 18 Nghị định 77/2008/NĐ-CP quy định người thực hiện tư vấn pháp luật:
Người thực hiện tư vấn pháp luật
Người thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm:
1. Tư vấn viên pháp luật;
2. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật;
3. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật;
Theo đó, đối tượng thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm:
- Tư vấn viên pháp luật
- Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật
- Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật

Như vậy, đối tượng được phép thực hiện dịch vụ tư vấn pháp luật lao động là tư vấn viên pháp luật và luật sư hành nghề làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật theo hợp đồng lao động.
III. Giải đáp một số câu hỏi thắc mắc về dịch vụ tư vấn pháp luật lao động
1. Thẩm quyền cấp phép hoạt động đối với dịch vụ tư vấn pháp luật lao động là cơ quan nào?
Theo Điều 35 Luật Luật sư 2006 quy định:
"Điều 35. Đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư
1. Tổ chức hành nghề luật sư đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên. Công ty luật do luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty.
2. Tổ chức hành nghề luật sư phải có hồ sơ đăng ký hoạt động gửi Sở Tư pháp. Hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư gồm có:
a) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo mẫu thống nhất;
b) Dự thảo Điều lệ của công ty luật;
c) Bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư thành lập văn phòng luật sư, thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật;
d) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư.
3. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, người bị từ chối cấp Giấy đăng ký hoạt động có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
4. Tổ chức hành nghề luật sư được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động.
Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao Giấy đăng ký hoạt động cho Đoàn luật sư mà mình là thành viên."
Thẩm quyền cấp phép hoạt động dịch vụ tư vấn pháp luật lao động thuộc về Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hoặc cá nhân đăng ký hoạt động tư vấn pháp luật. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động tư vấn pháp luật, bao gồm cả tư vấn pháp luật lao động, theo quy định tại Điều 13 Nghị định 77/2008/NĐ-CP.
2. Nếu thực hiện dịch vụ tư vấn pháp luật lao động trái quy định thì bị xử lý ra sao?
Căn cứ Điều 9 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật, theo đó:
1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Báo cáo không đúng thời hạn, không chính xác, không đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền về tổ chức và hoạt động định kỳ hằng năm hoặc khi được yêu cầu;
b) Thông báo không đúng thời hạn cho cơ quan có thẩm quyền khi chấm dứt hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật; thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không niêm yết mức thù lao tư vấn pháp luật tại trụ sở;
b) Không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về tổ chức và hoạt động định kỳ hằng năm hoặc khi được yêu cầu; không lập, quản lý, sử dụng sổ sách, biểu mẫu theo quy định;
c) Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền khi thay đổi nội dung đăng ký hoặc chấm dứt hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật; thay đổi giám đốc trung tâm, trưởng chi nhánh, tư vấn viên pháp luật, luật sư; thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật;
d) Không có biển hiệu hoặc sử dụng biển hiệu không đúng nội dung giấy đăng ký hoạt động;
đ) Cho người không phải là tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật của trung tâm tư vấn pháp luật, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho trung tâm để thực hiện tư vấn pháp luật dưới danh nghĩa của trung tâm tư vấn pháp luật;
e) Cử người không phải là luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho trung tâm tư vấn pháp luật tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu tư vấn pháp luật;
g) Tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy đăng ký hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật;
h) Thực hiện tư vấn pháp luật khi chưa được cấp giấy đăng ký hoạt động.
3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Hoạt động không đúng phạm vi theo quy định của pháp luật, không đúng lĩnh vực ghi trong giấy đăng ký hoạt động;
b) Không đăng ký hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật, chi nhánh của trung tâm tư vấn pháp luật với cơ quan có thẩm quyền.
4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi của tổ chức không có chức năng tư vấn pháp luật mà hoạt động tư vấn pháp luật dưới bất kỳ hình thức nào.
5. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;
b) Tịch thu tang vật là giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm g khoản 2 Điều này.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quy định tại điểm g khoản 2 Điều này;
b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm h khoản 2, điểm a khoản 3 và khoản 4 Điều này.

Theo đó, nếu thực hiện dịch vụ tư vấn pháp luật lao động trái quy định, cá nhân hoặc tổ chức có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Mức phạt có thể bao gồm tiền phạt, đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép tư vấn pháp luật.
Ngoài ra, hành vi này có thể bị xử lý hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng, theo quy định tại các luật liên quan như Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Luật sư. Việc vi phạm còn làm mất uy tín, gây thiệt hại cho khách hàng và thị trường dịch vụ tư vấn pháp luật.
3. Mức chi phí đối với dịch vụ tư vấn pháp luật lao động hiện nay được tính như thế nào?
Theo Điều 9 Thông tư 01/2010/TT-BTP quy định về căn cứ và phương thức tính thù lao tư vấn pháp luật như sau:
Căn cứ và phương thức tính thù lao tư vấn pháp luật
1. Mức thu thù lao tư vấn pháp luật đối với một vụ, việc được tính dựa trên các căn cứ sau:
a) Nội dung, tính chất của công việc;
b) Thời gian và công sức của luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật thực hiện công việc;
c) Kinh nghiệm, uy tín của các luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm.
2. Thù lao được tính theo các phương thức sau:
a) Giờ làm việc của luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật;
b) Vụ, việc với mức thù lao trọn gói;
c) Hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định.
3. Thù lao của luật sư làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Luật sư.
Thù lao của luật sư làm việc cho Trung tâm tư vấn pháp luật khi tham gia tố tụng dân sự, hành chính và các lĩnh vực khác được thực hiện theo thỏa thuận giữa Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh với khách hàng, phù hợp với biểu thù lao do tổ chức chủ quản quy định.
Như vậy, mức thù lao của cộng tác viên tư vấn pháp luật sẽ được tính dựa trên những căn cứ sau:
+ Nội dung, tính chất của công việc.
+ Thời gian và công sức của luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật thực hiện công việc.
+ Kinh nghiệm, uy tín của các luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm.
Thù lao của cộng tác viên tư vấn pháp luật sẽ được tính theo phương thức sau:
+ Giờ làm việc của luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật.
+ Vụ, việc với mức thù lao trọn gói.
+ Hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định.
Như vậy, mức chi phí tư vấn pháp luật lao động được tính dựa trên các căn cứ sau: nội dung và tính chất công việc, thời gian, công sức của luật sư hoặc tư vấn viên, cùng kinh nghiệm và uy tín của họ (theo Điều 9 Thông tư 01/2010/TT-BTP). Phương thức tính thù lao gồm: theo giờ làm việc, theo vụ việc trọn gói hoặc theo hợp đồng dài hạn với mức cố định. Mức phí cụ thể có thể khác nhau tùy thuộc vào từng tổ chức và thỏa thuận giữa các bên.
4. Người không có chứng chỉ hành nghề luật sư có được cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật lao động không?
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định 77/2008/NĐ-CP về người thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm:
- Tư vấn viên pháp luật;
- Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật;
- Cộng tác viên tư vấn pháp luật.

Theo đó, người không có chứng chỉ hành nghề luật sư vẫn có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật lao động với tư cách tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật.
5. Dịch vụ tư vấn pháp luật lao động có bắt buộc phải ký hợp đồng bằng văn bản không?
Dịch vụ tư vấn pháp luật lao động có bắt buộc phải ký hợp đồng bằng văn bản hay không phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể như sau:
- Trường hợp luật sư hành nghề tự do:
Luật sư khi cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật lao động phải ký hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản với khách hàng theo quy định tại Điều 26 Luật Luật sư 2006. Hợp đồng này ghi rõ nội dung dịch vụ, thời hạn, thù lao và các quyền, nghĩa vụ của các bên.
- Trường hợp luật sư làm việc theo hợp đồng lao động trong tổ chức:
Nếu luật sư hành nghề làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức (ví dụ Trung tâm tư vấn pháp luật), thì không bắt buộc phải ký hợp đồng dịch vụ pháp lý riêng biệt với khách hàng khi tư vấn pháp luật lao động.
- Trường hợp các tổ chức, cá nhân không phải luật sư:
Việc ký hợp đồng bằng văn bản hoặc không còn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên và quy định nội bộ của tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật lao động.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu về dịch vụ tư vấn pháp luật lao động
Dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu về dịch vụ tư vấn pháp luật lao động của chúng tôi tập trung hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định pháp luật khi cung cấp dịch vụ này. NP Law tư vấn về điều kiện hành nghề, trình tự cấp phép, nội dung hoạt động hợp pháp, soạn thảo hợp đồng, và xử lý các vướng mắc pháp lý. Mục tiêu là đảm bảo hoạt động tư vấn lao động diễn ra minh bạch, đúng luật và hiệu quả.