Làm rõ tình tiết "trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và khung hình phạt và quy định pháp luật về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Quý khách hàng có thể liên hệ đến NPLaw để được tư vấn pháp lý cụ thể hơn về vấn đề này.
I. Làm rõ tình tiết "trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và khung hình phạt
Hiện nay, không có văn bản nào định nghĩa cụ thể về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tuy nhiên, hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể được hiểu là hành vi giết người trong tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình.
Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể là do hành vi vi phạm pháp luật của nạn nhân gây nên đối với người phạm tội hoặc người thân của người phạm tội gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi phạm tội.

Trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được.
Tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017) quy định tình tiết "Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra theo tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017) thì được xem là dấu hiệu định tội vì vậy không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Như vậy, tình tiết "trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và khung hình phạt.
II. Quy định pháp luật về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1. Các yếu tố cấu thành giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Căn cứ Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017) quy định tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, theo đó, người nào có hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Người phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bị phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm tùy theo mức độ vi phạm.
Các yếu tố cấu thành tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:
[1] Chủ thể
Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017) quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Cụ thể như sau:
- Về độ tuổi: Người phạm tội phải đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017).
- Về năng lực trách nhiệm hình sự: Người phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự.
[2] Mặt khách quan
Hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân đã làm cho chủ thể của tội phạm lâm vào tình trạng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của mình.
Hành vi tước đoạt mạng sống có thể là đâm, chém, bắn...
Dấu hiệu hậu quả của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hậu quả chết người.
Nạn nhân của tội phạm là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng và đã làm cho chủ thể của tội phạm lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
[3] Mặt chủ quan
Hành vi được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Cụ thể như sau:
Giết người với lỗi cố ý trực tiếp là người phạm tội biết rõ hành vi của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân nhưng vẫn thực hiện hành vi giết người.
Giết người với lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân, tuy không mong muốn nạn nhân chết nhưng vẫn bỏ mặc dẫn đến hậu quả nạn nhân chết.
[4] Mặt khách thể
Xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người, xâm phạm trực tiếp đến quyền được sống của người bị hại được pháp luật bảo vệ.
2. So sánh giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với cái tội giết người khác
So sánh giết người trong trạng thái bị kích động mạnh với giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:
- Về chủ thể
- Điều 125 Bộ luật hình sự 2015: Chủ thể tội phạm là người có năng lực hành vi dân sự bị kích động mạnh về tinh thần khi thực hiện tội phạm, họ không còn nhận thức được đầy đủ hành vi của mình như trước nhưng chưa phải là mất hẳn khả năng nhận thức, lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bản thân gây ra.
- Điều 126 Bộ luật hình sự 2015: Chủ thể của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm này có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hay cả người không quốc tịch nhưng phải trong tình thế phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ người phạm tội. Người phạm tội phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.
- Về mặt khách thể
- Điều 125 Bộ luật hình sự 2015: Đối tượng tác động là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với đối tượng hoặc người thân thích của đối tượng. làm xâm phạm đến tính mạng của người khác.
- Điều 126 Bộ luật hình sự 2015: Đối tượng tác động phải là người có hành vi xâm phạm vào các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân người phạm tội hoặc người khác. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp người phòng vệ chính đáng thực hiện hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần tiết gây ra hậu quả chết người. Và tội này xâm phạm trực tiếp đến tính mạng con người.
- Về mặt khách quan
- Điều 125 Bộ luật hình sự 2015: Có hành vi tước đoạt mạng sống của người khác khi hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đang xảy ra hoặc đã kết thúc. Giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh và đây là trạng thái tâm lý của người phạm tội không tự làm chủ và điều khiển, kiềm chế được hành vi của mình trước sự tác động của yếu tố kích động khách quan. Hành vi giết người này xuất phát từ nguyên nhân nạn nhân đã có hành vi trái pháp luật nghiệp trọng đối với chính người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. đó là sự kích động tức thì do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây ra sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng thường là hành vi xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người phạm tội hoặc người thân củ họ nhưng chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm. Và trạng thái tinh thần của người phạm tội là kích động mạnh và phải do chính hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra.
- Điều 126 Bộ luật hình sự 2015: Hành vi khách quan của tội phạm là giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tức là nạn nhân chính là người có hành vi tấn công, xâm hại đến lợi ích hợp pháp và hành vi giết người là hành vi người phạm tội lựa chọn cách thực hiện để ngăn chặn hành vi tấn công và bảo vệ lợi ích hợp pháp đang bị xâm phạm. Và trạng thái tinh thần của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc.
- Về mặt chủ quan
- Điều 125 Bộ luật hình sự 2015: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Là hành vi của người phạm tội mà khi đó người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là rất nguy hiểm tước đoạt đi mạng sống của người bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra
+ Lỗi gián tiếp là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể tước đoạt mạng sống của người bị hại và thấy hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy người phạm tội không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Mục đích nhằm tước đi mạng sống của người khác. Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc.
- Điều 126 Bộ luật hình sự năm 2015: chủ thể của tội phạm thực hiện hành vi giết người do lỗi vô ý, có thể là vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả hoặc có thể là lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội có động cơ phòng vệ chính đáng hoặc bắt giữ người phạm tội, đây hoàn toàn là động cơ tốt nhằm bảo vệ lợi ích của bản thân, của người khác hoặc bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà nước, cơ quan, tổ chức. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng vẫn tự tin rằng mình có thể khống chế được tình hình hoặc do lỗi cẩu thả, chủ quan cho rằng hậu quả chết người sẽ không xảy ra hay cũng có thể người phạm tội dù không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng vẫn có ý thức bỏ mặc để hậu quả xảy ra. Động cơ là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.
- Về hậu quả
- Điều 125 Bộ luật hình sự 2015: Làm nạn nhân chấm dứt sự sống. Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả thì đây là hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạng không thể làm chủ được hành vi, nhận thức của bản thân.
- Điều 126 Bộ luật hình sự 2015: Làm nạn nhân chấm dứt sự sống. Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả thì đây là hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn chính đáng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân.
3. Ý nghĩa của giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong việc quyết định hình phạt?
Theo khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017), khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017), cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, theo Điều 51 Bộ luật này có quy định phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, tình tiết giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được xem là tình tiết định tội và không được Tòa án cân nhắc để xem là tình tiết giảm nhẹ, và cũng là yếu tố quan trọng trong việc quyết định hình phạt.
III. Giải đáp một số câu hỏi về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1. Yếu tố văn hóa và xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến việc một người rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến hành vi giết người?
Tội phạm giết người đang có xu hướng tăng dần về số lượng và tính chất nghiêm trọng, và yếu tố văn hóa và xã hội có ảnh hưởng lớn đến việc một người rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến hành vi giết người như sau:
Phần lớn phẩm chất tâm lý tốt, xấu của người phạm tội có được là do học hỏi, tiếp thu từ môi trường xã hội. Trình độ học vấn thấp, nhận thức hạn chế, sống thiếu lý tưởng cùng với tệ nạn xã hội bủa vây (ma túy, cờ bạc, rượu chè và những thú vui ăn chơi khơi gợi hứng thú bản năng…) làm cho thanh thiếu niên dễ sa ngã và phạm tội. Giá trị của quyền được sống, được tôn trọng về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản của con người… không hiện diện trong tâm lý, ý thức người phạm tội. Vì thế, một người có thể ra tay giết người một cách lạnh lùng, không chút xúc cảm. Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, con người được xã hội hóa trong môi trường mà những tác động tiêu cực nhiều hơn tác động tích cực nên dễ hình thành nhân cách phạm tội. Ví dụ: con người bị nhiễm hành vi bạo lực từ chính môi trường mà họ sống. Đó có thể là do cha mẹ của họ từng có hành vi bạo lực, có thể là do một người nào đó mà họ bị ảnh hưởng. Hình ảnh trò chơi trực tuyến và phim bạo lực ngày càng tàn bạo, chính điều này hình thành một hình ảnh tâm lý ám ảnh họ khi họ ở tâm lý tuổi mới lớn chưa thật sự ổn định. Bên cạnh đó, có thể do tác động của chất kích thích như rượu và ma túy làm họ có những hành vi nguy hiểm như vậy.
Nguyên nhân tổ chức, quản lý xã hội kém: Không phải mọi người trong xã hội đều có ý thức tự giác vì thế xã hội cần được quản lý, kiểm soát chặt chẽ và tội phạm xảy ra một phần là do quản lý xã hội kém. Gia đình bận rộn làm ăn không quan tâm đến thành viên làm gì, ở đâu, quan hệ xã hội thế nào. Nhà trường cũng chưa quản lý chặt chẽ học sinh, kỷ luật không nghiêm để xảy ra tình trạng đánh nhau, làm nhục kiểu xã hội đen. Chính quyền không đủ sức quản lý dân cư, đặc biệt là dân nhập cư, không việc làm, đối tượng lưu manh, côn đồ, tiền án, thường dính dáng đến tệ nạn xã hội.
2. Liệu có những biện pháp phòng ngừa nào có thể được thực hiện để giảm thiểu các vụ án giết người xảy ra trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh?
Công dân cần chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, hiểu rõ công tác phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm giết người nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại địa bàn tổ dân, khu phố.
Ứng xử có văn hóa, lịch sự trong giao tiếp, tôn trọng trong quá trình sinh hoạt. Thường xuyên quan tâm, quản lý giáo dục con em trong gia đình, đặc biệt chú ý đến các mối quan hệ ngoài xã hội của con em mình để kịp thời uốn nắn, giáo dục, nhất là những thanh niên biểu hiện hư hỏng, thường xuyên ăn chơi, lêu lổng không quan tâm đến việc học tập, gia đình.
Nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, tội phạm. Kịp thời phát hiện, tố giác đến cơ quan chức năng giải quyết triệt để các mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội không để âm ỉ, kéo dài, phức tạp.
Không cổ vũ, xúi giục, kích động người khác tham gia đánh nhau, gây thương tích, giết người.
Hạn chế sử dụng rượu bia, đồ uống có cồn, chất kích thích trong các cuộc liên hoan, hiếu, hỷ, tổ chức sự kiện và trong đời sống sinh hoạt hằng ngày để nâng cao sức khỏe, đồng thời phòng ngừa mâu thuẫn đến các vụ gây thương tích, giết người.
Khi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp nên giữ bình tĩnh, tìm hướng giải quyết, tuyệt đối không sử dụng bạo lực. Trong trường hợp không giải quyết được thì trình báo ngay cho cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương để hỗ trợ giải quyết.
Không vay mượn tiền của các đối tượng cho vay lãi nặng, không tham gia hoặc liên quan đến tệ nạn cờ bạc, ma túy, không tàng trữ vũ khí, hung khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái phép vì bất kỳ lý do gì...
3. Cơ quan điều tra và Tòa án có những phương pháp nào để đánh giá tính khách quan và độ tin cậy của lời khai từ bị can, bị cáo và các nhân chứng liên quan đến trạng thái tinh thần?
Theo quy định pháp luật tại Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017) quy định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, để xác định chính xác người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có mắc bệnh tâm thần hay không, thì cơ quan chức năng sẽ đưa đối tượng đi trưng cầu giám định, bởi đây là một trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại tại khoản 1 Điều 206 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
4. Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh sẽ bị xử lý như thế nào theo Bộ luật Hình sự?
Theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017), tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh sẽ bị xử lý như sau:
- Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
5. Những yếu tố nào được xem là căn cứ để xác định hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh?
Việc xác định trạng thái này cần có sự phối hợp giữa đánh giá pháp lý và chuyên môn tâm lý, giám định pháp y tâm thần.
Cần xem xét khách quan các yếu tố:
- Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân.
- Mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân.
- Thời gian giữa hành vi của nạn nhân và hành vi giết người.
- Diễn biến tâm lý của người phạm tội.
Yếu tố chủ quan là trạng thái tinh thần của người phạm tội tại thời điểm thực hiện hành vi giết người. Để xác định tội phạm trong trường hợp này, cần xem xét:
- Trạng Thái Tinh Thần Bị Kích Động Mạnh: Người phạm tội phải đang ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tức là không còn khả năng kiểm soát hành vi của mình do bị xúc phạm, đe dọa hoặc bị kích động bởi các yếu tố bên ngoài.
- Mục Đích Không Chuẩn Bị Trước: Mục đích giết người không được chuẩn bị từ trước mà xảy ra một cách bộc phát do tác động của hoàn cảnh dẫn đến sự kích động tinh thần.
6. Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có được giảm nhẹ hình phạt không?
Theo Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017), người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Như vậy, người phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh và phải xuất phát từ nguyên nhân do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì vẫn bị phạt tù. Mức phạt cao nhất lên đến 07 năm tù giam.
Theo như quy định trên, thì tình tiết tinh thần bị kích động mạnh khi phạm tội giết người được xem xét là tình tiết định tội, do đó, sẽ không áp dụng tình tiết này theo quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sđ, bs 2017).
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ với NPLaw theo thông tin liên hệ sau: