Hợp tác trong đào tạo là sự phối hợp giữa các tổ chức, cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo quy định pháp luật. Pháp luật hiện hành quy định rõ điều kiện, chính sách hỗ trợ và thẩm quyền phê duyệt hoạt động hợp tác này. Hợp tác có thể áp dụng với cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế, mang lại nhiều lợi ích cho cả người học và cơ sở đào tạo, đồng thời yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo quy định.
Hợp tác trong đào tạo là sự phối hợp giữa các tổ chức, cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo quy định pháp luật. Pháp luật hiện hành quy định rõ điều kiện, chính sách hỗ trợ và thẩm quyền phê duyệt hoạt động hợp tác này. Hợp tác có thể áp dụng với cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế, mang lại nhiều lợi ích cho cả người học và cơ sở đào tạo, đồng thời yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo quy định.
I. Nhu cầu tìm hiểu về hợp tác trong đào tạo hiện nay
Hiện nay, nhu cầu tìm hiểu về hợp tác trong đào tạo ngày càng tăng do sự phát triển nhanh chóng của giáo dục và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và tổ chức đào tạo đều mong muốn hợp tác để chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm và công nghệ nhằm cải thiện chương trình giảng dạy, mở rộng cơ hội thực tập và việc làm cho học viên. Đồng thời, việc hiểu rõ các quy định pháp luật về hợp tác trong đào tạo giúp đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của các hoạt động này, góp phần phát triển bền vững hệ thống giáo dục quốc gia.
II. Quy định pháp luật về hợp tác trong đào tạo
1. Hợp tác trong đào tạo là gì theo quy định pháp luật?
Căn cứ tại Điều 47 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định:
Các hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp
1. Liên kết đào tạo.
2. Thành lập văn phòng đại diện của cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.
3. Hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học.
4. Bồi dưỡng, trao đổi nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp và người học.
5. Trao đổi thông tin phục vụ hoạt động đào tạo; cung ứng chương trình đào tạo; trao đổi các ấn phẩm, tài liệu và kết quả hoạt động đào tạo.
6. Tham gia các tổ chức giáo dục, hội nghề nghiệp khu vực và quốc tế.
7. Mở văn phòng đại diện cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam ở nước ngoài.
8. Các hình thức hợp tác khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, liên kết đào tạo với nước ngoài là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp.

Hiểu theo cách khác, liên kết đào tạo hay hợp tác trong đào tạo là hoạt động phối hợp giữa các tổ chức, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp hoặc cá nhân nhằm mục đích cùng nhau tổ chức, thực hiện các chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Hợp tác này có thể bao gồm việc chia sẻ nguồn lực, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ, hoặc hỗ trợ về cơ sở vật chất và tài chính, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và phát triển nghề nghiệp của người học.
2. Pháp luật hiện hành có quy định điều kiện để được hợp tác trong đào tạo không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 22 Nghị định 15/2019/NĐ-CP quy định về điều kiện hợp tác trong đào tạo với nước ngoài cụ thể như sau:
* Ngành, nghề và trình độ đào tạo
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp thực hiện liên kết với cơ sở giáo dục, đào tạo nước ngoài theo các hình thức liên kết đào tạo quy định tại Điều 21 Nghị định này được liên kết đào tạo các ngành, nghề và trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, trừ các ngành, nghề thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, tôn giáo và bảo đảm không có nội dung gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử; không ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.
* Đối tượng tuyển sinh vào học các chương trình liên kết đào tạo
- Trường hợp cấp bằng, chứng chỉ của Việt Nam thì đối tượng tuyển sinh thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Trường hợp cấp bằng, chứng chỉ của nước ngoài thì đối tượng tuyển sinh thực hiện theo quy định của pháp luật nước ngoài;
- Trường hợp đồng cấp bằng, chứng chỉ của nước ngoài và của Việt Nam thì đối tượng tuyển sinh thực hiện theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này.
* Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo
- Có phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thực tập; cơ sở sản xuất thử nghiệm đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo, quy mô đào tạo của từng ngành, nghề liên kết. Diện tích phòng học lý thuyết, phòng, xưởng thực hành, thực tập dùng cho học tập và giảng dạy bảo đảm ở mức bình quân ít nhất là 05 m2/chỗ học;
- Thiết bị đào tạo của từng ngành, nghề liên kết đào tạo phải bảo đảm đủ theo quy định trong chương trình đào tạo và tương ứng quy mô đào tạo của ngành, nghề liên kết.
* Chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo
- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp thực hiện liên kết đào tạo có trách nhiệm bảo đảm đầy đủ chương trình, giáo trình, tài liệu học tập, học liệu đào tạo phục vụ cho việc học tập của người học theo yêu cầu của từng chương trình liên kết.
* Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ về số lượng, phù hợp với cơ cấu ngành, nghề và các tiêu chuẩn theo quy định, cụ thể:
- Nhà giáo giảng dạy tại các chương trình liên kết đào tạo quy định tại các điểm a, b khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định này phải đạt trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định tại Điều 54 Luật giáo dục nghề nghiệp hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
- Nhà giáo giảng dạy tại các chương trình liên kết đào tạo quy định tại các điểm c khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định này phải đạt các tiêu chuẩn theo quy định của các chương trình liên kết hoặc tiêu chuẩn của quốc gia có cơ sở đào tạo liên kết với cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam;
- Nhà giáo giảng dạy tại các chương trình liên kết đào tạo quy định tại điểm d khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 21 Nghị định này phải đạt tiêu chuẩn theo quy định tại các điểm a, b khoản 5 Điều này;
- Nhà giáo giảng dạy bằng ngoại ngữ trong chương trình liên kết đào tạo phải có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của chương trình do các bên liên kết thỏa thuận. Nhà giáo là người nước ngoài dạy ngoại ngữ tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có bằng đại học trở lên và có chứng chỉ giảng dạy ngoại ngữ phù hợp;
- Nhà giáo là người nước ngoài giảng dạy tại các chương trình liên kết đào tạo phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
- Tỷ lệ tối đa là 25 học sinh, sinh viên/nhà giáo.
* Ngôn ngữ giảng dạy và học tập:
- Ngôn ngữ sử dụng để giảng dạy, học tập các môn chuyên ngành trong liên kết đào tạo để cấp bằng, chứng chỉ của Việt Nam hoặc nước ngoài là tiếng Việt, tiếng nước ngoài hoặc thông qua phiên dịch;
- Người vào học chương trình liên kết đào tạo để cấp bằng của nước ngoài phải có trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu của các bên liên kết, nhưng tối thiểu phải đạt trình độ ngoại ngữ đầu ra đạt trình độ bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam về năng lực ngoại ngữ hoặc tương đương;
- Căn cứ nhu cầu của người học, các bên liên kết có thể tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ giúp người học đạt trình độ quy định tại điểm b khoản 6 Điều này.
3. Các chính sách pháp luật hiện hành về hợp tác trong đào tạo là gì?
Pháp luật hiện hành quy định rõ về hợp tác trong đào tạo, đặc biệt là liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế. Theo đó, các cơ sở giáo dục phải đáp ứng các điều kiện về năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo được phê duyệt. Các hình thức hợp tác này phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Việc hợp tác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng cơ hội học tập cho người học và tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục.
Dưới đây là các chính sách pháp luật hiện hành về hợp tác trong đào tạo (liên kết hợp tác đào tạo) tại Việt Nam:
- Luật Giáo dục 2019: Quy định nguyên tắc và điều kiện liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục trong nước và với cơ sở nước ngoài.
- Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014: Quy định về hợp tác đào tạo nghề nghiệp, liên kết giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.
- Nghị định 99/2019/NĐ-CP về Quy chế liên kết đào tạo: Quy định chi tiết về điều kiện, thủ tục, hồ sơ liên kết đào tạo.
- Thông tư 09/2021/TT-BGDĐT hướng dẫn thực hiện liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học.
- Luật Giáo dục Đại học 2012 (sửa đổi, bổ sung 2018): Quy định cụ thể về liên kết đào tạo trong lĩnh vực giáo dục đại học.
Quy định về thẩm quyền phê duyệt liên kết đào tạo: Cơ quan quản lý giáo dục các cấp có thẩm quyền kiểm tra, phê duyệt chương trình liên kết.

Những chính sách này đảm bảo hợp tác trong đào tạo được thực hiện hợp pháp, nâng cao chất lượng đào tạo và bảo vệ quyền lợi người học.
III. Giải đáp một số câu hỏi thắc mắc về hợp tác trong đào tạo
1. Có được thực hiện hợp tác trong đào tạo với các cơ sở giáo dục quốc tế không?
Pháp luật Việt Nam cho phép thực hiện hợp tác trong đào tạo với các cơ sở giáo dục quốc tế. Cụ thể, Luật Giáo dục 2019 quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm các hình thức như liên kết giáo dục, đào tạo và thành lập văn phòng đại diện của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam.
Để thực hiện hợp tác này, các cơ sở giáo dục trong nước cần tuân thủ các điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định, đảm bảo chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu giáo dục quốc gia và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Việc hợp tác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng cơ hội học tập cho người học và tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giáo dục.
2. Hợp tác trong đào tạo có thể áp dụng ở những lĩnh vực nào?
Hợp tác trong đào tạo có thể được áp dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực theo quy định pháp luật, cụ thể gồm:
- Giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp: Các trường có thể liên kết để tổ chức chương trình học chung, trao đổi giáo viên, học sinh.
- Đào tạo đại học và sau đại học: Hợp tác giữa các trường trong nước và quốc tế để triển khai chương trình liên kết đào tạo, đồng cấp bằng hoặc liên thông trình độ.
- Đào tạo nghề và kỹ năng: Các doanh nghiệp có thể phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp để tổ chức đào tạo gắn với thực tiễn sản xuất.
- Đào tạo trực tuyến, đào tạo ngắn hạn: Hợp tác tổ chức các khóa học kỹ năng, chứng chỉ hoặc chuyên đề thông qua nền tảng công nghệ.
- Đào tạo trong lĩnh vực chuyên biệt: Y tế, công nghệ, luật, tài chính, giáo dục mầm non, ngôn ngữ, quản lý... đều có thể áp dụng mô hình hợp tác để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
3. Hợp tác trong đào tạo mang lại những lợi ích gì cho cơ sở giáo dục và người học?
Hợp tác trong đào tạo mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả cơ sở giáo dục và người học:
* Đối với cơ sở giáo dục:
- Nâng cao chất lượng đào tạo: Tiếp cận chương trình, phương pháp và công nghệ giáo dục tiên tiến từ đối tác trong hoặc ngoài nước.
- Mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế: Tăng uy tín, thu hút thêm học viên và nguồn lực.
- Tối ưu hóa nguồn lực: Chia sẻ giảng viên, cơ sở vật chất và tài liệu đào tạo.
- Đáp ứng yêu cầu thị trường lao động: Gắn kết đào tạo với thực tiễn, giúp chương trình sát nhu cầu doanh nghiệp.
* Đối với người học:
- Tiếp cận chương trình chất lượng cao: Có cơ hội học chương trình quốc tế hoặc chương trình tích hợp giữa lý thuyết và thực hành.
- Nâng cao kỹ năng thực tiễn: Nhờ mô hình đào tạo kết hợp với doanh nghiệp, người học được thực hành và cọ xát với môi trường làm việc thực tế.
- Tăng cơ hội việc làm và học lên cao: Bằng cấp từ các chương trình liên kết được công nhận rộng rãi, hỗ trợ xin việc hoặc du học.
- Tiết kiệm chi phí: So với du học toàn phần, chương trình liên kết giúp người học tiếp cận nền giáo dục quốc tế với chi phí thấp hơn.
Từ những lợi ích trên, có thể thấy rằng hợp tác trong đào tạo không chỉ là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập mà còn là giải pháp thiết thực giúp nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.
4. Hồ sơ, thủ tục để thực hiện hợp tác trong đào tạo cần những gì?
* Hồ sơ để thực hiện hợp tác trong đào tạo
Theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về hồ sơ phê duyệt hợp tác trong đào tạo như sau:
Hồ sơ phê duyệt hợp tác trong đào tạo bao gồm:
- Đơn đề nghị phê duyệt liên kết đào tạo với nước ngoài do các bên liên kết cùng ký theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
- Thỏa thuận hoặc hợp đồng hợp tác giữa các bên liên kết, trong đó có thông tin chi tiết về các bên liên kết, trách nhiệm của các bên liên kết đối với các nội dung cam kết cụ thể về chương trình, tài liệu học tập và giảng dạy, giảng viên, cơ sở vật chất, kiểm tra, đánh giá, văn bằng, thông tin về tài chính và các nội dung khác;
- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của các bên liên kết: Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập cơ sở giáo dục hoặc các tài liệu tương đương khác;
- Giấy tờ chứng minh cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và cơ sở giáo dục đại học nước ngoài được phép đào tạo trong lĩnh vực dự định liên kết (bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu);
- Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục của chương trình đào tạo nước ngoài hoặc giấy tờ công nhận chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền (bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu);
- Văn bản chấp thuận về chủ trương cho phép liên kết đào tạo với nước ngoài của cơ quan chủ quản đối với cơ sở giáo dục Việt Nam (nếu có);
- Đề án thực hiện liên kết đào tạo với nước ngoài do các bên liên kết xây dựng theo Mẫu số 07 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, bao gồm các nội dung chủ yếu: Sự cần thiết, mục tiêu của liên kết; giới thiệu các bên liên kết; nội dung liên kết; ngành và trình độ đào tạo; cơ sở vật chất, thiết bị; chương trình và nội dung giảng dạy; danh sách giảng viên dự kiến kèm theo lý lịch khoa học; đối tượng và tiêu chí tuyển sinh; quy mô đào tạo; hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá; văn bằng, chứng chỉ sẽ được cấp, tính tương đương của văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài đối với văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam; biện pháp bảo đảm chất lượng giáo dục, quyền lợi của người học và người lao động; bộ phận phụ trách liên kết, lý lịch cá nhân của người đại diện cơ sở giáo dục Việt Nam và cơ sở giáo dục nước ngoài tham gia quản lý chương trình; mức học phí, hỗ trợ tài chính của cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài (nếu có), dự toán kinh phí, cơ chế quản lý tài chính; trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên kết; trách nhiệm và quyền hạn của nhà giáo, người học.
* Thủ tục để thực hiện hợp tác trong đào tạo
Tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về thủ tục thực hiện hợp tác trong đào tạo như sau:
1. Đối với liên kết đào tạo.
a) Các bên liên kết đào tạo gửi 01 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định này trực tiếp hoặc qua bưu điện đến cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 22 Nghị định này;
b) Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ tổ chức thẩm định và ban hành quyết định phê duyệt liên kết đào tạo với nước ngoài theo Mẫu số 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
c) Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo bằng văn bản gửi trực tiếp hoặc qua bưu điện hoặc thư điện tử cho cơ sở đề nghị liên kết đào tạo.
Như vậy, các bên liên kết đào tạo gửi 01 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định này trực tiếp hoặc qua bưu điện đến cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 22 Nghị định này.
Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ tổ chức thẩm định và ban hành quyết định phê duyệt liên kết đào tạo với nước ngoài theo Mẫu số 10 Phụ lục Nghị định 86/2018/NĐ-CP.
Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo bằng văn bản gửi trực tiếp hoặc qua bưu điện hoặc thư điện tử cho cơ sở đề nghị liên kết đào tạo.
5. Cơ quan nào có thẩm quyền phê duyệt các hoạt động hợp tác trong đào tạo?
Căn cứ Điều 22 Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về thẩm quyền phê duyệt:
Điều 22. Thẩm quyền phê duyệt
1. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt liên kết tổ chức thi cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài, liên kết đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ với nước ngoài theo các hình thức quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Giám đốc đại học quốc gia, đại học vùng, thủ trưởng các cơ sở giáo dục đại học được hoạt động theo cơ chế tự chủ phê duyệt liên kết đào tạo trực tiếp trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ tổ chức tại những cơ sở này.
3. Hiệu trưởng (Giám đốc) cơ sở giáo dục đại học Việt Nam phê duyệt liên kết đào tạo cấp chứng chỉ, trừ chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài và chứng chỉ đào tạo có giá trị tích lũy tín chỉ hoặc học phần để cấp văn bằng.
Thẩm quyền phê duyệt hợp tác trong đào tạo được phân cấp theo loại hình: Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt liên kết đào tạo với nước ngoài; cơ sở giáo dục đại học tự chủ được phê duyệt chương trình tổ chức tại đơn vị; hiệu trưởng phê duyệt đào tạo cấp chứng chỉ trong phạm vi được quy định.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến hợp tác trong đào tạo
Dịch vụ tư vấn pháp lý về bảo hiểm lao động hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động hiểu rõ quy định pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. NP Law tư vấn về đối tượng bắt buộc tham gia, mức đóng, quyền lợi khi tham gia và trách nhiệm của doanh nghiệp.