Việc nhắn tin đòi nợ có được pháp luật cho phép không? Những tin nhắn đó có vi phạm pháp luật hay không và người bị quấy rối có thể làm gì để tự bảo vệ mình? Bài viết này của NPLaw sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan đến hành vi nhắn tin đòi nợ, giúp bạn đọc hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời trang bị kiến thức cần thiết để đối phó với những tin nhắn quấy rối, đòi nợ sai quy định pháp luật.
I. Thực trạng liên quan đến nhắn tin đòi nợ
Thực trạng nhắn tin đòi nợ ở Việt Nam hiện nay đang diễn biến phức tạp, với nhiều trường hợp đòi nợ trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và tâm lý của người dân. Các đối tượng đòi nợ sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, thậm chí sử dụng lời lẽ đe dọa, xúc phạm, bôi nhọ, lăng mạ, khủng bố tinh thần để gây áp lực. Vậy pháp luật có những biện pháp, chế tài nào đối với hành vi này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!
II. Các quy định liên quan đến nhắn tin đòi nợ
1. Thế nào là nhắn tin đòi nợ?
Pháp luật hiện nay không có quy định cụ thể thế nào là nhắn tin đòi nợ, tuy nhiên có thể hiểu việc nhắn tin đòi nợ là hành động gửi tin nhắn cho người khác, thường là khách hàng hoặc người quen, để yêu cầu thanh toán các khoản nợ đã quá hạn.Trong trường hợp này người nhắn sử dụng lời lẽ đe dọa, xúc phạm hoặc quấy rối để đòi nợ, có thể được coi là một hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy thuộc vào mức độ của hành vi vi phạm và hậu quả gây ra.
2. Hành vi nhắn tin đòi nợ cấu thành tội gì?
Hành vi nhắn tin đòi nợ có thể cấu thành nhiều tội khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và tính chất của tin nhắn.
Nếu tin nhắn có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị cấu thành tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015.

Hoặc cấu thành tội đe doạ giết người nếu nội dung tin nhắn thể hiện ý định hủy hoại tính mạng người khác theo Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015.
3. Chế tài đối với hành vi nhắn tin đòi nợ
Tuỳ thuộc vào động cơ, mục đích của hành vi nhắn tin đe dọa, xúc phạm và mức độ vi phạm mà người thực hiện hành vi có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Trường hợp nhắn tin đe dọa nhằm bôi nhọ nhân phẩm, danh dự của người khác thì người có hành vi có thể bị xử phạt theo Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP; mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng về hành vi sử dụng điện thoại nhằm xuyên tạc, vu khống, quấy rối, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác.
- Hành vi nhắn tin đòi nợ mà nội dung tin nhắn thể hiện ý định hủy hoại tính mạng người khác làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện thì có thể cấu thành tội đe doạ giết người. Người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành vi nhắn tin đòi nợ mà nội dung tin nhắn xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì có thể cấu thành tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015. Người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

III. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến nhắn tin đòi nợ
1. Bị nhắn tin đòi nợ có báo công an được không?
Có. Khi bị nhắn tin, gọi điện đòi nợ dù không có căn cứ, người dân có thể tìm kiếm sự hỗ trợ bằng nhiều cách như:
- Liên hệ cơ quan chức năng:
- Liên hệ công an khu vực để trình báo sự việc và và yêu cầu hỗ trợ;
- Gọi điện đến số 113 (Công an) để trình báo vụ việc và yêu cầu hỗ trợ;
Khi trình báo cần cung cấp những thông tin, bằng chứng cần thu thập như đã trình bày.
- Liên hệ luật sư: Thuê luật sư tư vấn và đại diện cho nếu cần thiết.
2. Bị nhắn tin đòi nợ có cần lập vi bằng tin nhắn không?
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Khi bị nhắn tin đòi nợ, việc lập vi bằng tin nhắn là một lựa chọn để ghi nhận bằng chứng, nhưng không bắt buộc. Vi bằng có thể giúp chứng minh nội dung tin nhắn, nhưng giá trị chứng cứ cuối cùng vẫn do tòa án đánh giá. Người dân có thể lựa chọn lập vi bằng hoặc sử dụng các biện pháp khác như chụp ảnh màn hình tin nhắn để làm bằng chứng.
3. Nhắn tin đòi nợ có bị ở tù không?
Có thể. Tùy theo hành vi, tính chất, mức độ của việc nhắn tin đòi nợ, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015.
Chẳng hạn như hành vi gọi điện khủng bố đến một cá nhân nhằm ép cá nhân đó trả nợ được xem là đe dọa, uy hiếp tinh thần người khác và có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức cao nhất lên đến 20 năm tù theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015. Hoặc hành vi gọi điện khủng bố nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự lên đến 05 năm tù theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến nhắn tin đòi nợ
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về nhắn tin đòi nợ mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ ngay với NPLaw.