Lợi ích của bạn - Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi
0913449968 0913419996 legal@nplaw.vn

Trộm cắp tài sản lần đầu là hành vi vi phạm pháp luật. Bài viết tìm hiểu quy định pháp luật về trộm cắp tài sản lần đầu và giải đáp một số thắc mắc liên quan.

Trộm cắp tài sản lần đầu là hành vi vi phạm pháp luật. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về trộm cắp tài sản lần đầu và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

I. Rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến trộm cắp tài sản lần đầu

Trộm cắp tài sản là một hành vi phạm tội không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản mà còn gây tổn hại đến trật tự xã hội. Trộm cắp lần đầu có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào giá trị tài sản, nhân thân và các tình tiết kèm theo. Dưới đây là các rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến trộm cắp tài sản lần đầu:

- Xử phạt hành chính:

Trường hợp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu mà giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 thì người vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính. Theo điểm a khoản 1 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

- Bị truy cứu hình sự:

Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định người trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là ngưỡng định lượng cơ bản để phân biệt giữa xử lý hành chính và xử lý hình sự trong nhiều vụ việc thực tế.

Với tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể xử lý hình sự nếu vụ việc thuộc một trong các trường hợp luật định. Các trường hợp này phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi, không chỉ dựa vào giá trị tài sản:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
  • Tài sản là di vật, cổ vật.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Người có hành vi trộm cắp tài sản lần đầu buộc phải trả lại tài sản đã trộm cắp hoặc bồi thường thiệt hại nếu tài sản đã bị hư hỏng, mất mát theo điểm b khoản 4 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Điều 584 Bộ luật dân sự 2015.

Như vậy, người trộm cắp tài sản lần đầu có thể chịu các rủi ro pháp ý như trên.

II. Tìm hiểu về trộm cắp tài sản lần đầu

Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về trộm cắp tài sản lần đầu. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.

1. Định nghĩa pháp lý chính xác của tội trộm cắp tài sản lần đầu theo quy định tại Bộ luật Hình sự hiện hành là gì?

Hiện nay chưa có quy định cụ thể nhằm định nghĩa về hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên dựa vào các yếu tố cấu thành hành vi tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), thì trộm cắp tài sản có thể được hiểu là cá nhân cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác để thu lợi bất chính từ giá trị tài sản đó mang lại.

- Tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP quy định được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Trước đó chưa phạm tội lần nào;
  • Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;
  • Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
  • Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Theo đó, tội trộm cắp tài sản lần đầu được hiểu là việc một người cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác để thu lợi bất chính từ giá trị tài sản đó mang lại mà trước đó chưa từng bị xử phạt hành chính hoặc chưa từng bị kết án về hành vi này hoặc đã được xóa án tích.

2. Hành vi lén lút dịch chuyển tài sản nhưng bị phát hiện ngay tại chỗ có bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản lần đầu chưa đạt?

- Theo Điều 15 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

- Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp cụ thể theo quy định sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Do đó, hành vi lén lút dịch chuyển tài sản nhưng bị phát hiện ngay tại chỗ có thể bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản lần đầu chưa đạt nếu giá trị tài sản do trộm cắp chưa đạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.

3. Thế nào là tình tiết "phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" áp dụng cho người trộm cắp tài sản lần đầu?

- Theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được hướng dẫn bởi khoản 9 Điều 2, Điều 5 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP thì tình tiết "phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" thuộc được xem là một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cụ thể, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là trường hợp phạm tội khi có đủ 02 điều kiện sau đây:

  • Phạm tội lần đầu là trường hợp từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào hoặc trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; thuộc trường hợp được coi là không có án tích; trước đó đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích.
  • Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm hoặc trường hợp người phạm tội có vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án đồng phạm về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

- Tòa án chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi có đủ 02 điều kiện “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Nếu bị cáo phạm tội lần đầu mà không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc ngược lại phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng không phải là phạm tội lần đầu thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nếu bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị kết án hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong lần phạm tội sau thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.

Tóm lại, tình tiết "phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" áp dụng cho người trộm cắp tài sản lần đầu được phân tích như trên.

4. Động cơ vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có làm thay đổi bản chất pháp lý của hành vi trộm cắp tài sản lần đầu?

- Theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được hướng dẫn bởi khoản 7 Điều 2, Điều 5 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP quy định “Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra” là trường hợp phải do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà phạm tội và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không phải do người phạm tội tự mình gây ra, có thể do người khác hoặc nguyên nhân khách quan khác gây ra (như: thiên tai địch họa, hỏa hoạn, tai nạn rủi ro, bệnh hiểm nghèo, sự kiện bất khả kháng dẫn tới bước đường cùng hoặc không còn tài sản đáng kể...). Chỉ áp dụng tình tiết này khi có đầy đủ hai điều kiện “phải do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà phạm tội” và “hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không phải do người phạm tội tự mình gây ra”.

Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự còn phải căn cứ vào mức độ, hoàn cảnh khó khăn và khả năng khắc phục của người phạm tội.

- Theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) thì bản chất pháp lý của tội trộm cắp tài sản gồm:

  • Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi trộm cắp tài sản có thể được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, hoặc lợi dụng hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết.
  • Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi phạm tội được thực hiện bởi lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi và hậu quả của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

Vậy, động cơ vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không có làm thay đổi bản chất pháp lý của hành vi trộm cắp tài sản lần đầu.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến trộm cắp tài sản lần đầu

Tìm hiểu các quy định về trộm cắp tài sản lần đầu là vấn đề được nhiều người quan tâm. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về trộm cắp tài sản lần đầu theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết, thụ lý hồ sơ và ra quyết định xử phạt vụ trộm cắp tài sản lần đầu?

- Theo khoản 2, 3 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025) được hướng dẫn bởi Điều 5 và Điều 6 Thông tư liên tịch 

01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định như sau:

Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

  • Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
  • Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

  • Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
  • Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
  • Công an cấp xã, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo khoản 3 Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025.

- Căn cứ Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025) thủ tục thụ lý hồ sơ và ra quyết định xử phạt vụ trộm cắp tài sản lần đầu như sau:

- Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn tố giác tội phạm phải phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

- Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:

a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng.

Nhìn chung, các cơ quan trên có thẩm quyền giải quyết, thụ lý hồ sơ và ra quyết định xử phạt vụ trộm cắp tài sản lần đầu.

2. Trình tự thực hiện các bước tố tụng từ khởi tố, điều tra đến xét xử vụ án trộm cắp tài sản lần đầu diễn ra ra sao?

Trình tự thực hiện các bước tố tụng từ khởi tố, điều tra đến xét xử vụ án trộm cắp tài sản lần đầu được quy định như sau:

- Giai đoạn khởi tố vụ án trộm cắp tài sản lần đầu được quy định tại Chương IX Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025):

  • Sau khi kết thúc giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải ra một trong các quyết định: khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án, tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
  • Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng.

- Giai đoạn điều tra vụ án và khởi tố bị can được quy định tại Chương X đến Chương XVII Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025):

Giai đoạn này bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố của cơ quan tiến hành tố tụng và kết thúc bằng kết luận điều tra và đề nghị Viện Kiểm sát truy tố bị can trước Toà án hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hình sự.

  • Khởi tố bị can: Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
  • Hỏi cung bị can: Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.
  • Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, định giá tài sản bị mất, thu thập vật chứng và khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật.
  • Kết thúc điều tra: Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.

- Giai đoạn truy tố  được quy định tại Phần thứ ba Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025):

Sau khi hoàn thành điều tra vụ án hình sự cơ có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự sẽ chuyển hồ sơ đề nghị Viện Kiểm sát truy tố vụ án hình sự.

Kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án; Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can trong thời hạn sau đây:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng: 20 ngày. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn thêm nhưng không quá 10 ngày.
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: 30 ngày.Trong trường hợp cần thiết được gia hạn thêm không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  • Đối với trường hợp chuyển vụ án khi không thuộc thẩm quyền truy tố: thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.

- Giai đoạn xét xử vụ án được quy định tại Phần thứ tư Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025):

Là giai đoạn Tòa án có thẩm quyền thực hiện xét xử trên cơ sở kết quả quá trình điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát và tranh tụng tại tòa. Giai đoạn xét xử vụ án hình sự bao gồm:

  • Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;
  • Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự;

Quá trình xét xử được thực hiện theo nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục, chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố và Tòa án đã có quyết định đưa ra xét xử. Khi kết thúc hội đồng xét xử ra bản án hoặc các quyết định.

Nếu bản án sơ thẩm mà không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án sẽ có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành. Ngược lại, thì có thể có thêm các giai đoạn khác như:

- Xét xử phúc thẩm (nếu bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo kháng nghị);

- Giám đốc thẩm (nếu bản án, quyết định đã có hiệu lực có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án);

- Và tái thẩm (nếu phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó).

Kết luận lại, trình tự thực hiện các bước tố tụng từ khởi tố, điều tra đến xét xử vụ án trộm cắp tài sản lần đầu diễn ra như trên.

3. Biện pháp chế tài xử lý hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản lần đầu chưa đạt định mức hình sự quy định ra sao?

- Theo điểm a khoản 1 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

-Ngoài ra, tại khoản 3, 4 Điều 18 Nghị định này có quy định hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi trộm cắp tài sản lần đầu chưa đạt là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tài sản có được do chiếm giữ trái phép đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật cho chủ sở hữu hợp pháp.

Có thể thấy, biện pháp chế tài xử lý hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản lần đầu chưa đạt định mức hình sự quy định như trên.

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến trộm cắp tài sản lần đầu

Để hiểu rõ hơn các quy định về trộm cắp tài sản lần đầu, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.

1. Điều kiện thực hiện việc miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội trộm cắp tài sản lần đầu gồm những gì?

Theo Điều 29 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) quy định căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như sau:

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi có quyết định đại xá.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận (Điểm này được bổ sung bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017).

Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản này được bổ sung bởi Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017).

Theo đó, điều kiện miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội trộm cắp tài sản lần đầu được thực hiện theo quy định vừa nêu.

2. Quy định về việc xử lý, tịch thu hoặc trả lại phương tiện dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu là gì?

Theo Điều 47, 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) quy định như sau:

- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm:

Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

  • Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
  • Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;
  • Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành (Điểm này được bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017).

Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.

- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

  • Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
  • Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

- Tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025) quy định việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

- Vật chứng được xử lý như sau:

  • Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
  • Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
  • Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

  • Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
  • Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
  • Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
  • Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, việc xử lý, tịch thu hoặc trả lại phương tiện dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu được quy định như trên.

3. Người có hành vi giúp sức, dẫn đường hoặc che giấu cho người trộm cắp tài sản lần đầu sẽ bị xử lý như thế nào?

Theo khoản 1, 3 Điều 17 và Điều 18 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) quy định như sau:

- Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

- Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

  • Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
  • Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
  • Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
  • Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

- Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

- Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Vì vậy, người có hành vi giúp sức, dẫn đường hoặc che giấu cho người trộm cắp tài sản lần đầu sẽ bị truy cứu với vai trò là đồng phạm hoặc người che dấu tội phạm nếu không thuộc trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự. Khi đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý hành chính tùy theo tính chất hành vi và giá trị tài sản trộm cắp.

4. Người bị hại có quyền đòi bồi thường tổn thất tinh thần ngoài giá trị tài sản bị mất trong vụ trộm cắp tài sản lần đầu?

- Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP thì Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

- Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 quy định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

  • Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
  • Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
  • Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
  • Thiệt hại khác do luật quy định.

Theo đó, luật không quy định về trường hợp bồi thường tổn thất tinh thần ngoài giá trị tài sản bị mất khi có thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, mà khoản bồi thường tổn thất tinh thần chỉ áp dụng trong trường hợp thiệt hại do tính mạng, sức khỏe và do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm theo Điều 590, 591, 592 Bộ luật dân sự 2015.

5. Người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu với giá trị dưới 2 triệu đồng có bị đi tù không và trong trường hợp đặc biệt nào thì bị khởi tố?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 về tội trộm cắp tài sản như sau:

Người trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội trộm cắp tài sản nếu không thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản.
  • Đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật hình sự 2015 mà chưa được xóa án tích.
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
  • Tài sản là di vật, cổ vật.

Vậy, người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu với giá trị dưới 2 triệu đồng có thể bị đi tù và bị khởi tố trong các trường hợp nêu trên.

V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến trộm cắp tài sản lần đầu?

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về trộm cắp tài sản lần đầu mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.

CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Điện thoại Hotline 1: 0913449968 Hotline 2: 0913419996

Dịch vụ liên quan

​​​​​​​Buôn lậu là gì? khi nào phải chịu trách nhiệm về hành vi buôn lậu?

Song song với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế trong 5 năm trở lại đây, th...

Tội buôn lậu theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam

Buôn lậu là cụm từ khá phổ biến trong đời sống xã hội nhưng không phải ai cũng h...

Giật hụi có thể bị phạt tù theo quy định của bộ luật hình sự?

Hụi là một loại giao dịch về tài sản sớm được hình thành ở nhiều nước trên thế g...

Lừa đảo trực tuyến và cách thức đề phòng

Người dân khi sử dụng Internet, mạng xã hội, ứng dụng trực tuyến mất cảnh giác,...

Làm giả sổ đỏ

  Làm giả sổ đỏ hiện nay là một tình trạng đáng báo động. Cá...

Xét xử tội giết người theo quy định pháp luật hình sự

Xuất phát từ việc bảo vệ con người và tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết ngư...

Tội giết người khi chưa đủ 18 tuổi được quy định như thế nào?

Hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, nhất là tội...

Đe doạ giết người qua tin nhắn bị xử lý như thế nào?

Hiện nay, hành vi đe dọa giết người qua tin nhắn khá phổ biến. Bởi lẽ công nghệ...

WhatsApp WeChat Zalo hotline 0913449968 hotline
0
Bạn đang quan tâm đến

Chúng tôi sẵn sàng tư vấn miễn phí cho bạn!

Tư vấn điện thoại Zalo Tư vấn qua Zalo