Trong môi trường lao động hiện đại, việc giám sát, quản lý nhân viên ngày càng phổ biến với sự hỗ trợ của công nghệ. Tuy nhiên, ranh giới giữa quản lý hợp pháp và xâm phạm quyền riêng tư là rất mong manh. Bảo vệ quyền riêng tư của người lao động không chỉ là yêu cầu đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam. Bài viết dưới đây NPLaw sẽ phân tích các quy định pháp luật hiện hành về quyền riêng tư của nhân viên.
I. Thực trạng xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên hiện nay
Thực trạng xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên hiện nay đang là vấn đề đáng quan ngại trong nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam. Dưới áp lực quản lý hiệu suất làm việc, không ít đơn vị đã áp dụng các biện pháp theo dõi, kiểm soát vượt quá giới hạn cho phép, như:
- Gắn camera tại nơi làm việc nhưng không thông báo rõ mục đích và phạm vi giám sát;
- Kiểm tra email cá nhân, tài khoản mạng xã hội hoặc thiết bị làm việc của nhân viên mà không được sự đồng ý;
- Ép nhân viên chia sẻ thông tin sức khỏe, đời tư, tình trạng hôn nhân, nơi ở,... không liên quan đến công việc;
- Thu thập, lưu trữ thông tin cá nhân mà không minh bạch về mục đích hoặc không bảo mật đầy đủ.
II. Quy định pháp luật về xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên
1. Xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên là gì?
Xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên là hành vi vi phạm pháp luật mà trong đó một người có các hành vi tiết lộ, phát tán… những thông tin riêng tư của cá nhân khi không được người đó đồng ý trừ trường hợp được phép của luật quy định thì đều là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ chịu trách nhiệm về hành vi đó.
Bởi theo Điều 21 Hiến pháp Việt Nam, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; danh dự, uy tín cũng như thư tín, điện thoại, điện tử, các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác đều được pháp luật bảo vệ, không ai được xâm phạm trái luật.

Không chỉ thế, tại Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật cũng bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân và không ai được phép xâm phạm một cách trái luật. Đặc biệt, khoản 2 Điều này cũng khẳng định, không ai được phép thu thập, sử dụng, công khai các thông tin liên quan đến quyền riêng tư của người khác mà không được người đó đồng ý.
2. Thế nào là hành vi xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên?
Hành vi xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên là những hành vi can thiệp, thu thập, sử dụng, công bố thông tin cá nhân hoặc đời sống riêng tư của người lao động mà không có sự đồng ý hợp pháp của họ, làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư hoặc gây bất lợi cho họ trong quan hệ lao động.
Các hành vi này có thể bao gồm:
- Ghi âm, ghi hình, định vị nhân viên mà không thông báo và không được sự đồng ý;
- Kiểm tra thư từ, tin nhắn, tài khoản cá nhân của nhân viên mà không có căn cứ pháp lý rõ ràng;
- Thu thập thông tin sức khỏe, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, quan hệ cá nhân trái với ý chí của nhân viên;
- Công bố thông tin cá nhân của nhân viên ra bên ngoài hoặc trong nội bộ mà không được cho phép;
- Ép buộc nhân viên tiết lộ thông tin riêng tư không liên quan đến công việc.
Theo pháp luật Việt Nam, các hành vi trên có thể vi phạm Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Lao động 2019, Luật An ninh mạng 2018 và các văn bản liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.
3. Người sử dụng lao động xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên bị xử phạt như thế nào?
Căn cứ vào quy định của pháp luật, người sử dụng lao động xâm phạm quyền riêng tư của người khác, tuỳ vào từng tính chất, mức độ vi phạm cũng như hậu quả và đối tượng bị xâm phạm mà người vi phạm sẽ chịu các hình thức xử phạt khác nhau.
Xử phạt vi phạm hành chính
Căn cứ theo điểm a khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất như sau:
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín hoặc nhân phẩm của người lao động khi xử lý kỷ luật lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
4. Biện pháp khắc phục hậu quả
c) Buộc người sử dụng lao động xin lỗi công khai đối với người lao động và trả toàn bộ chi phí điều trị, tiền lương cho người lao động trong thời gian điều trị nếu việc xâm phạm gây tổn thương về thân thể người lao động đến mức phải điều trị tại cơ sở y tế khi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; …
Và mức phạt tiền này áp dụng đối với cá nhân còn tổ chức thì mức phạt gấp 02 lần quy định trên căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Truy cứu trách nhiệm hình sự
Tại Điều 155 BLHS 2015, sửa đổi 2017 quy định về tội làm nhục người khác như sau:
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, nếu người sử dụng lao động xâm phạm quyền riêng tư của người lao động thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đến 40 triệu đồng hoặc bị phạt tù lên đến 05 năm.
III. Giải đáp một số câu hỏi về xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên
1. Người sử dụng lao động yêu cầu nhân viên cung cấp hồ sơ bệnh án, tình trạng sức khỏe có được coi là xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên không?
Điều 16 Bộ luật lao động 2019 có quy định như sau: Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
Như vậy, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu nhân viên cung cấp hồ sơ bệnh án, tình trạng sức khỏe và đây không phải là xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên.
2. Người sử dụng lao động có được tiết lộ thông tin cá nhân của nhân viên tại nơi làm việc không?
Không được phép, trừ khi có sự đồng ý của nhân viên hoặc pháp luật có quy định cụ thể. Việc tiết lộ thông tin cá nhân như địa chỉ, tình trạng sức khỏe, số điện thoại… khi không được cho phép có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền riêng tư theo quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Lao động.
3. Nhân viên cần làm gì để bảo vệ quyền riêng tư của mình trước hành vi xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên?
Để bảo vệ quyền riêng tư của mình, nhân viên có thể thực hiện các bước sau:
- Yêu cầu giải thích: Khi bị yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, nhân viên nên hỏi rõ mục đích sử dụng và cơ sở pháp lý liên quan.
- Từ chối hợp lý: Có quyền từ chối cung cấp thông tin nếu không có cơ sở rõ ràng hoặc cảm thấy bị xâm phạm quyền riêng tư.
- Gửi kiến nghị/nội dung phản ánh: Gửi đến công đoàn cơ sở, bộ phận nhân sự hoặc lãnh đạo công ty.
- Tố cáo hành vi vi phạm: Nếu việc xâm phạm nghiêm trọng, nhân viên có thể gửi đơn tố cáo đến thanh tra lao động hoặc cơ quan bảo vệ quyền lợi người lao động.
- Thu thập bằng chứng: Ghi âm, lưu giữ email, tài liệu có liên quan để làm căn cứ khi cần giải quyết tranh chấp.
4. Xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên qua email công việc có vi phạm pháp luật không?
Việc xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên qua email công việc có thể vi phạm pháp luật, nếu người sử dụng lao động tự ý truy cập, đọc, sao chép hoặc sử dụng nội dung email cá nhân mà không có sự đồng ý của nhân viên và không phục vụ mục đích quản lý hợp pháp.
Theo Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Lao động 2019, quyền riêng tư, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu cá nhân... được pháp luật bảo vệ, trừ trường hợp có sự đồng ý của người đó hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
5. Ghi âm, ghi hình nhân viên mà không thông báo có bị coi là xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên không?
Khoản 3 Điều 12 Luật Viễn thông quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động viễn thông gồm: Thu trộm, nghe trộm, xem trộm thông tin trên mạng viễn thông; trộm cắp, sử dụng trái phép tài nguyên viễn thông, mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác…
Như vậy, khi ghi âm, ghi hình cuộc gọi của người khác mà không được sự đồng ý của người đó thì bị coi là trái pháp luật và bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm q khoản 3 Điều 102 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên
Trên đây là tất cả các thông tin chi tiết mà NPLaw của chúng tôi cung cấp để hỗ trợ quý khách hàng liên quan đến xâm phạm quyền riêng tư của nhân viên. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.