Lợi ích của bạn - Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi
0913449968 0913419996 legal@nplaw.vn

Giấy phép chia sẻ dữ liệu là loại giấy phép doanh nghiệp cần có khi chí sẻ dữ liệu với bên thứ ba. Bài viết này sẽ phân tích định nghĩa và tìm hiểu quy định pháp luật về giấy phép chia sẻ dữ liệu cũng như giải đáp các vấn đề liên quan.

Giấy phép chia sẻ dữ liệu là một trong những giấy phép cần có khi muốn chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba và được cơ quan, tổ chức quan tâm trong quá trình thu thập thông tin, xử lý dữ liệu khách hàng. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về giấy phép chia sẻ dữ liệu và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

I. Nhu cầu xin giấy phép chia sẻ dữ liệu trong giai đoạn hiện nay

Nhu cầu xin giấy phép chia sẻ dữ liệu trong giai đoạn hiện nay ngày càng tăng cao do có những quy định pháp luật mới về bảo vệ dữ liệu đòi hỏi một số chủ thể sử dụng dữ liệu, lĩnh vực hoạt động phải có giấy phép khi chia sẻ dữ liệu. Để chia sẻ dữ liệu an toàn và hợp pháp, doanh nghiệp cần tuân thủ luật bảo vệ dữ liệu, sử dụng các nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn và có thể cần các giấy phép cụ thể như giấy phép mạng xã hội nếu chia sẻ qua nền tảng đó.

II. Tìm hiểu về giấy phép chia sẻ dữ liệu

Để hiểu rõ hơn về giấy phép chia sẻ dữ liệu và tại sao cần có loại giấy phép này. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bên dưới.

1. Giấy phép chia sẻ dữ liệu là gì?

Theo khoản 6 Điều 3 Luật giao dịch điện tử 2023 có quy định dữ liệu là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự khác.

Chia sẻ dữ liệu là quá trình cung cấp quyền truy cập và chuyển giao tài nguyên dữ liệu cho nhiều người dùng, ứng dụng hoặc tổ chức khác nhau một cách an toàn.

Theo đó, có thể hiểu giấy phép chia sẻ dữ liệu là một thỏa thuận pháp lý giữa người tạo ra dữ liệu và người dùng, quy định rõ các điều khoản sử dụng dữ liệu mà người dùng được phép và không được phép chia sẻ với dữ liệu đó cho bên thứ ba khác.

2. Tại sao doanh nghiệp cần có giấy phép chia sẻ dữ liệu khi làm việc với bên thứ ba?

Giấy phép chia sẻ dữ liệu giúp các bên liên quan hiểu rõ quyền và nghĩa vụ khi chia sẻ và xử lý dữ liệu cá nhân, đồng thời yêu cầu chủ thể dữ liệu phải đồng ý với việc chia sẻ đó. Doanh nghiệp cần có giấy phép chia sẻ dữ liệu khi làm việc với bên thứ ba vì:

  • Tuân thủ quy định pháp luật: Pháp luật yêu cầu doanh nghiệp (bên xử lý dữ liệu) phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu trước khi chia sẻ thông tin cá nhân cho bên thứ ba. Giấy phép chia sẻ dữ liệu hoặc các văn bản khác quy định về quyền chia sẻ dữ liệu là bằng chứng cho việc tuân thủ này.
  • Bảo vệ quyền riêng tư: Giấy phép chia sẻ dữ liệu giúp chủ thể dữ liệu biết dữ liệu của họ sẽ được chia sẻ cho ai, với mục đích gì. Điều này đảm bảo quyền riêng tư của họ được tôn trọng và bảo vệ.
  • Xác định rõ quyền và nghĩa vụ: Giấy phép chia sẻ dữ liệu làm rõ trách nhiệm của mỗi bên (kiểm soát dữ liệu, xử lý dữ liệu, bên thứ ba) trong việc bảo vệ dữ liệu.
  • Giảm thiểu rủi ro an ninh mạng: Việc chia sẻ dữ liệu mà không có sự kiểm soát chặt chẽ có thể dẫn đến rò rỉ thông tin. Giấy phép giúp đảm bảo bên thứ ba có các biện pháp bảo vệ dữ liệu an toàn, giảm thiểu rủi ro.
  • Đảm bảo an toàn và minh bạch: Khi có hợp đồng hoặc giấy phép chia sẻ dữ liệu, quá trình chia sẻ và xử lý thông tin sẽ minh bạch và an toàn hơn, từ đó tạo dựng niềm tin với khách hàng.

Như vậy, doanh nghiệp cần có giấy phép chia sẻ dữ liệu khi làm việc với bên thứ ba vì các lý do nêu trên.

3. Giấy phép chia sẻ dữ liệu có thể giúp tổ chức tránh những rủi ro nào trong quá trình chia sẻ thông tin?

Căn cứ khoản 1 Điều 15 Nghị định 165/2025/NĐ-CP, giấy phép chia sẻ dữ liệu có thể giúp tổ chức tránh những rủi ro nào trong quá trình chia sẻ thông tin, dữ liệu gồm:

  • Rủi ro quyền riêng tư xảy ra do không tuân thủ quy định của pháp luật về quyền riêng tư của chủ thể dữ liệu trong quá trình xử lý và chuyển dữ liệu.
  • Rủi ro an ninh mạng xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ dữ liệu không được công khai khỏi những truy cập trái phép từ các đối tượng bên ngoài hoặc dữ liệu bị rò rỉ ra bên ngoài.
  • Rủi ro khác trong xử lý dữ liệu bao gồm: rủi ro chia sẻ dữ liệu xảy ra khi không có khả năng duy trì quyền kiểm soát đối với dữ liệu đã chia sẻ; rủi ro quản lý dữ liệu xảy ra do chất lượng của dữ liệu không đảm bảo.
  • Ngoài ra, giấy phép chia sẻ dữ liệu là căn cứ giải quyết tranh chấp: Giấy phép chia sẻ dữ liệu là cơ sở, căn cứ pháp lý, giúp giải quyết các tranh chấp tiềm ẩn về quyền sở hữu, quyền sử dụng, hoặc trách nhiệm pháp lý liên quan đến dữ liệu. Nó cung cấp cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc chia sẻ, giảm thiểu rủi ro kiện tụng do việc chia sẻ dữ liệu trái pháp luật.

Như vậy, giấy phép chia sẻ dữ liệu có thể giúp tổ chức tránh những rủi ro nhất định trong quá trình chia sẻ thông tin.

4. Nếu không có giấy phép chia sẻ dữ liệu, tổ chức có thể gặp phải những vấn đề gì?

Nếu không có giấy phép chia sẻ dữ liệu, tổ chức có thể gặp phải các vấn đề pháp lý như sau:

  • Vi phạm pháp luật: Chia sẻ dữ liệu mà không có giấy phép hoặc sự đồng ý của chủ thể dữ liệu là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tổ chức có thể bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc bị xử lý hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
  • Mất uy tín và niềm tin với khách hàng, đối tác: Việc vi phạm bảo mật dữ liệu sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến danh tiếng của tổ chức, làm giảm lòng tin của khách hàng và đối tác.
  • Tranh chấp pháp lý: Tổ chức có thể đối mặt với việc kiện tụng từ chủ thể dữ liệu hoặc các bên liên quan.

Do đó, việc chia sẻ dữ liệu mà không có giấy phép không chỉ gây ra các rủi ro pháp lý mà còn có thể làm gia tăng chi phí hoạt động do phải xử lý các vấn đề pháp lý, đền bù thiệt hại và khắc phục hậu quả vi phạm.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu

Tìm hiểu các quy định pháp luật về giấy phép chia sẻ dữ liệu là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về giấy phép chia sẻ dữ liệu theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Quy định về giấy phép chia sẻ dữ liệu

Theo khoản 1 Điều 17 Luật dữ liệu 2024 quy định việc chia sẻ dữ liệu như sau:

  • Chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu kết nối, chia sẻ dữ liệu cho người dùng dữ liệu theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận, bằng cách trực tiếp hoặc thông qua một bên trung gian.
  • Cơ quan nhà nước thực hiện điều phối dữ liệu thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm dữ liệu chia sẻ an toàn, đồng bộ, hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sẵn sàng để kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép khai thác dữ liệu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
  • Thủ tướng Chính phủ quyết định việc chia sẻ dữ liệu dùng riêng do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý trong trường hợp đột xuất, cấp bách trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ hoặc trường hợp cần thiết khác để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

- Theo Điều 11 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, sự đồng ý của chủ thể dữ liệu được áp dụng đối với tất cả các hoạt động trong quy trình xử lý dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

- Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu phải được thể hiện rõ ràng, cụ thể bằng văn bản, giọng nói, đánh dấu vào ô đồng ý, cú pháp đồng ý qua tin nhắn, chọn các thiết lập kỹ thuật đồng ý hoặc qua một hành động khác thể hiện được điều này.

- Sự đồng ý phải được tiến hành cho cùng một mục đích. Khi có nhiều mục đích, Bên Kiểm soát dữ liệu cá nhân, Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân liệt kê các mục đích để chủ thể dữ liệu đồng ý với một hoặc nhiều mục đích nêu ra.

- Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu phải được thể hiện ở một định dạng có thể được in, sao chép bằng văn bản, bao gồm cả dưới dạng điện tử hoặc định dạng kiểm chứng được.

Đối với xử lý dữ liệu cá nhân nhạy cảm, chủ thể dữ liệu phải được thông báo rằng dữ liệu cần xử lý là dữ liệu cá nhân nhạy cảm.

- Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu có hiệu lực cho tới khi chủ thể dữ liệu có quyết định khác hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản.

Theo quy định trên, có thể thấy, luật không có quy định cụ thể về giấy phép chia sẻ dữ liệu mà quy định về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu phải được thể hiện rõ ràng, cụ thể bằng văn bản, giọng nói, đánh dấu vào ô đồng ý, cú pháp đồng ý qua tin nhắn, chọn các thiết lập kỹ thuật đồng ý hoặc qua một hành động khác thể hiện được điều này. Và giấy phép chia sẻ dữ liệu cũng là một phương thức thể hiện sự đồng ý, quyền được chia sẻ dữ liệu.

2. Hướng dẫn thủ tục xin giấy phép chia sẻ dữ liệu

Theo khoản 1 Điều 17 Luật dữ liệu 2024, chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu kết nối, chia sẻ dữ liệu cho người dùng dữ liệu theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận, bằng cách trực tiếp hoặc thông qua một bên trung gian.

Theo khoản 1, 3, 5 Điều 11 Nghị định 13/2023/NĐ-CP quy định sự đồng ý của chủ thể dữ liệu được áp dụng đối với tất cả các hoạt động trong quy trình xử lý dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu phải được thể hiện rõ ràng, cụ thể bằng văn bản, giọng nói, đánh dấu vào ô đồng ý, cú pháp đồng ý qua tin nhắn, chọn các thiết lập kỹ thuật đồng ý hoặc qua một hành động khác thể hiện được điều này.

Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu phải được thể hiện ở một định dạng có thể được in, sao chép bằng văn bản, bao gồm cả dưới dạng điện tử hoặc định dạng kiểm chứng được.

Theo quy định trên, có thể thấy thủ tục xin giấy phép chia sẻ dữ liệu không phải là thủ tục bắt buộc đối với mọi trường hợp, mà phụ thuộc vào loại dữ liệu, lĩnh vực kinh doanh của tổ chức muốn chia sẻ dữ liệu.

Do đó, chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu có thể thỏa thuận với người dùng hoặc với chủ thể dữ liệu về việc chia sẻ dữ liệu thông qua hình thức như một định dạng có thể được in, sao chép bằng văn bản, bao gồm cả dưới dạng điện tử hoặc định dạng kiểm chứng được. Hoặc đối với các dữ liệu theo quy định pháp luật khi tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề có điều kiện, nếu muốn chia sẻ dữ liệu phải xin giấy phép con tương ứng với lĩnh vực hoạt động trong đó bao gồm quyền chia sẻ dữ liệu.

Chẳng hạn, thủ tục xin giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội như sau:

- Theo điểm b khoản 6 Điều 24 Nghị định 147/2024/NĐ-CP, doanh nghiệp tại Việt Nam hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ mạng xã hội thì cần có Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội (đối với mạng xã hội có số lượng người truy cập thường xuyên lớn) hoặc Giấy xác nhận thông báo cung cấp dịch vụ mạng xã hội (đối với mạng xã hội có số lượng người truy cập thường xuyên thấp).

- Căn cứ khoản 2, 4 khoản 5 Điều 25 Nghị định 147/2024/NĐ-CP, doanh nghiệp được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ hoặc ngành nghề đăng ký kinh doanh đã được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp phù hợp với dịch vụ mạng xã hội cung cấp;
  • Đã đăng ký sử dụng tên miền để cung cấp dịch vụ mạng xã hội và đáp ứng quy định tại Điều 26 Nghị định này;
  • Đáp ứng các điều kiện về tổ chức, nhân sự và kỹ thuật theo quy định tại Điều 27 Nghị định này;
  • Có biện pháp quản lý nội dung, thông tin theo quy định tại Điều 28 Nghị định này.
  • Mạng xã hội có số lượng người truy cập thường xuyên lớn. Trong trường hợp mạng xã hội có số lượng người truy cập thường xuyên thấp có nhu cầu cấp Giấy phép để cung cấp tính năng livestream hoặc các hoạt động có phát sinh doanh thu thì vẫn được xem xét cấp phép.

Trong đó, điều kiện có liên quan đến chia sẻ dữ liệu là doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý nội dung, thông tin theo quy định tại Điều 28 Nghị định này. Cụ thể, có Thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ theo đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 29 Nghị định 147/2024/NĐ-CP, được đăng công khai trên trang chủ; người dùng phải đồng ý thỏa thuận (điện tử) trước khi sử dụng dịch vụ.

- Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội:

  • Đơn đề nghị cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội theo Mẫu số 17 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
  • Bản sao hợp lệ (bao gồm bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao chứng thực hoặc bản sao chứng thực điện tử hoặc bản sao đối chiếu với bản gốc) một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Quyết định thành lập (hoặc bản sao hợp lệ giấy chứng nhận, giấy phép tương đương hợp lệ khác được cấp trước ngày có hiệu lực của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 và Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14); Điều lệ hoạt động (đối với các tổ chức hội, đoàn thể);
  • Quyết định thành lập hoặc Điều lệ hoạt động phải có chức năng nhiệm vụ phù hợp với phạm vi, lĩnh vực mà người sử dụng có thể thông tin trao đổi trên mạng xã hội;
  • Đề án hoạt động có xác nhận của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người đứng đầu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép, bao gồm các nội dung chính: Mô tả chi tiết các dịch vụ (bao gồm dịch vụ có thu tiền và không thu tiền), giao diện trang chủ và giao diện trang dịch vụ, phạm vi; lĩnh vực thông tin trao đổi; phương án tổ chức nhân sự, kỹ thuật, quản lý nội dung, thông tin nhằm bảo đảm hoạt động của mạng xã hội phù hợp với các quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định này; thông tin địa điểm đặt hệ thống máy chủ tại Việt Nam;
  • Thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội có xác nhận của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép, phải có tối thiểu các nội dung sau: Các nội dung cấm trao đổi, chia sẻ trên mạng xã hội; trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội, trong đó ghi rõ trách nhiệm người sử dụng dịch vụ không được lợi dụng mạng xã hội để hoạt động báo chí không phép; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội; cơ chế xử lý đối với người sử dụng vi phạm thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội; cảnh báo cho người sử dụng dịch vụ các rủi ro khi lưu trữ, trao đổi và chia sẻ thông tin trên mạng; cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ mạng xã hội với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội hoặc với tổ chức, cá nhân khác; cơ chế xử lý đối với khiếu nại của người sử dụng dịch vụ với thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do người sử dụng dịch vụ đăng tải trên mạng xã hội; công khai việc có hay không thu thập, xử lý các thông tin của người sử dụng dịch vụ trong thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội; mô tả biện pháp bảo đảm quyền quyết định của người sử dụng dịch vụ trong việc cho phép thu thập thông tin của mình hoặc cung cấp cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác; chính sách bảo vệ thông tin của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội;
  • Bản in/bản scan màu (nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính) hoặc bản chụp (nộp qua dịch vụ công trực tuyến) giao diện trang chủ và các trang chuyên mục của mạng xã hội; trang chủ phải có đầy đủ thông tin theo quy định tại khoản 9 Điều 24 Nghị định này.

- Theo khoản 1 Điều 31 Nghị định 147/2024/NĐ-CP, quy trình cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội sẽ thực hiện như sau:

  • Thông báo từ Bộ Khoa học và Công nghệ: Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ gửi văn bản thông báo (qua bưu chính hoặc điện tử) đến mạng xã hội có lượng truy cập thường xuyên lớn, yêu cầu nộp hồ sơ cấp phép theo quy định
  • Nộp hồ sơ trong 60 ngày: Trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận thông báo, doanh nghiệp vẫn được tiếp tục cung cấp dịch vụ nhưng phải nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội nêu tại mục 1.2 ở trên bằng phương thức trực tiếp hoặc qua bưu chính đến Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc qua Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Bộ Khoa học và Công nghệ (nếu nộp online phải dùng chữ ký số hợp lệ).
  • Xử lý hồ sơ trong 25 ngày: Trong 25 ngày kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ xem xét, cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội và gửi đoạn mã biểu tượng mạng xã hội đã cấp phép qua email. Nếu từ chối, sẽ có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
  • Gắn đoạn mã xác nhận cấp phép: Doanh nghiệp phải gắn đoạn mã được cấp trên mô tả dịch vụ tại kho ứng dụng (nếu có) và trên mạng xã hội. Đoạn mã phải liên kết đến mục số liệu cấp phép trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Như vậy, tùy theo loại dữ liệu, mục đích sử dụng và lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức mà việc xin giấy phép chia sẻ dữ liệu sẽ khác nhau.

3. Những vi phạm nào thường xảy ra liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu?

Các vi phạm liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu hiện nay rất phổ biến và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chủ thể dữ liệu bao gồm:

  • Chia sẻ dữ liệu cá nhân trái phép: Mua bán trái phép thông tin khách hàng hoặc lạm dụng dữ liệu cá nhân cho các mục đích lừa đảo, tấn công mạng.
  • Sử dụng dữ liệu sai mục đích: Xử lý dữ liệu không đúng thỏa thuận trong giấy phép hoặc sử dụng dữ liệu để thao túng hành vi người tiêu dùng hoặc phục vụ mục đích chính trị phi pháp.
  • Làm giả giấy phép chia sẻ dữ liệu hoặc không liệt kê đầy đủ các mục đích để chủ thể dữ liệu đồng ý với một hoặc nhiều mục đích nêu ra.
  • Chia sẻ dữ liệu cá nhân nhạy cảm, mà không thông báo hoặc nêu roc trong giấy phép cho chủ thể dữ liệu dẫn đến hậu quả bị rò rỉ thông tin.

Như vậy, những vi phạm trên thường xảy ra liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu.

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu

Để hiểu rõ hơn về các quy định liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.

1. Có thể rút lại giấy phép chia sẻ dữ liệu đã cấp không, và trong trường hợp nào?

Tùy theo loại dữ liệu, mục đích sử dụng và lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức mà việc xin giấy phép chia sẻ dữ liệu sẽ khác nhau.

Chẳng hạn, đối với Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội, theo khoản 2 Điều 33 Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định, cơ quan có thẩm quyền cấp phép ban hành Quyết định thu hồi Giấy phép cung cấp dịch vụ mạng xã hội khi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp vi phạm một trong các trường hợp sau:

  • Không thực hiện kiểm tra, giám sát và loại bỏ nội dung, dịch vụ, ứng dụng vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 34 và không xử lý nội dung, dịch vụ vi phạm pháp luật, không tạm khóa hoặc khóa vĩnh viễn hoạt động các tài khoản vi phạm pháp luật theo yêu cầu tại khoản 7 Điều 35 Nghị định này;
  • Không triển khai các biện pháp khắc phục để bảo đảm tính khả khi sau khi hết thời hạn bị đình chỉ hoạt động 03 tháng;
  • Có văn bản thông báo chấm dứt hoạt động hoặc sau 12 tháng kể từ ngày giấy phép có hiệu lực mà cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp không triển khai hoạt động trên thực tế và không có báo cáo với cơ quan có thẩm quyền cấp phép/cấp xác nhận;
  • Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, Giấy phép/Giấy xác nhận thông báo cung cấp dịch vụ mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp không còn hiệu lực theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 24 Nghị định này.

Theo đó, giấy phép liên quan đến chia sẻ dữ liệu sẽ do cơ quan có thẩm quyền cấp cho cơ quan, tổ chức có yêu cầu, nên chỉ có thể bị thu hồi theo quy định pháp luật nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc các trường hợp bị thu hồi giấy phép mà không được tự ý rút lại giấy phép.

2. Chia sẻ dữ liệu từ một quốc gia sang quốc gia khác có cần giấy phép gì đặc biệt không?

Theo Điều 23 Luật dữ liệu 2024 được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 165/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự do chuyển dữ liệu từ nước ngoài về Việt Nam, xử lý dữ liệu của nước ngoài tại Việt Nam, được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Chuyển, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng xuyên biên giới bao gồm:

  • Chuyển dữ liệu đang lưu trữ tại Việt Nam tới hệ thống lưu trữ dữ liệu đặt ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam chuyển dữ liệu cho tổ chức, cá nhân nước ngoài;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng nền tảng ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xử lý dữ liệu.

- Việc chuyển, xử lý dữ liệu phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu khi cần chuyển, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng xuyên biên giới thì thực hiện đánh giá tác động theo quy định.

- Bên chuyển dữ liệu phải đánh giá tác động với các vấn đề sau:

  • Tính hợp pháp, sự cần thiết, phạm vi, phương thức truyền dữ liệu và cách xử lý dữ liệu của bên nhận dữ liệu;
  • Những rủi ro mà việc chuyển dữ liệu có thể gây ra cho quốc phòng, an ninh, hoạt động kinh tế, đối ngoại, ổn định xã hội, lợi ích công cộng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức; rủi ro dữ liệu sẽ bị giả mạo, phá hủy, rò rỉ, mất hoặc sử dụng bất hợp pháp;
  • Trách nhiệm và nghĩa vụ, các biện pháp quản lý, kỹ thuật của bên nhận dữ liệu;
  • Các vấn đề khác có liên quan.

- Hồ sơ đánh giá tác động chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới gồm Báo cáo đánh giá tác động chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới (theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị định này) và các văn bản khác có liên quan.

Như vậy, tại Việt Nam khi chia sẻ dữ liệu hoặc chuyển dữ liệu sang quốc gia khác cần phải lập hồ sơ đánh giá tác động trước khi chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới để phục vụ hoạt động kiểm tra, đánh giá của Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng trong trường hợp cần thiết (không cần sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền trước khi thực hiện).

3. Có thể lưu trữ giấy phép chia sẻ dữ liệu điện tử không, và nó có giá trị pháp lý không?

Theo Điều 14 Luật dữ liệu 2024 được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 165/2025/NĐ-CP quy định lưu trữ dữ liệu như sau:

  • Cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức lưu trữ dữ liệu bảo đảm an toàn.
  • Tổ chức, cá nhân không phải cơ quan nhà nước là chủ sở hữu dữ liệu được quyền quyết định việc lưu trữ dữ liệu do mình thu thập, tạo lập, sở hữu; trường hợp lưu trữ dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng phải bảo đảm tuân thủ theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật này.
  • Cơ sở dữ liệu quốc gia phải được lưu trữ dữ liệu trên cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia.
  • Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác của cơ quan nhà nước được lưu trữ dữ liệu trên hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia hoặc hạ tầng của cơ quan, tổ chức khác đáp ứng tiêu chuẩn về trung tâm dữ liệu. Đối với dữ liệu dùng riêng và dữ liệu thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cơ yếu thực hiện lưu trữ dữ liệu trên cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia khi được sự đồng ý của chủ sở hữu dữ liệu.
  • Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu dữ liệu được quyền thỏa thuận lưu trữ dữ liệu trên cơ sở hạ tầng của Trung tâm dữ liệu quốc gia bằng hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa tổ chức, cá nhân đó với tổ chức cung cấp dịch vụ khai thác dữ liệu, cơ sở hạ tầng tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Như vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể lưu trữ giấy phép chia sẻ dữ liệu điện tử và nó có giá trị pháp lý theo quy định nêu trên.

4. Những thông tin nào cần được nêu rõ trong giấy phép chia sẻ dữ liệu?

Theo khoản 1 Điều 17 Luật dữ liệu 2024, chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu kết nối, chia sẻ dữ liệu cho người dùng dữ liệu theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận, bằng cách trực tiếp hoặc thông qua một bên trung gian.

Tùy theo loại dữ liệu, mục đích sử dụng và lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức mà thông tin, nội dung trong văn bản hoặc giấy phép chia sẻ dữ liệu sẽ khác nhau.

Chẳng hạn, đối với việc xử lý dữ liệu cá nhân, theo khoản 2 Điều 13 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, nội dung thông báo cho chủ thể dữ liệu về xử lý dữ liệu cá nhân:

  • Mục đích xử lý;
  • Loại dữ liệu cá nhân được sử dụng có liên quan tới mục đích xử lý;
  • Cách thức xử lý;
  • Thông tin về các tổ chức, cá nhân khác có liên quan tới mục đích xử lý;
  • Hậu quả, thiệt hại không mong muốn có khả năng xảy ra;
  • Thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc xử lý dữ liệu.

Hoặc trường hợp xin giấy phép cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội theo điểm d khoản 2 Điều 29 Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội có xác nhận của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép, phải có tối thiểu các nội dung sau:

Các nội dung cấm trao đổi, chia sẻ trên mạng xã hội; trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội, trong đó ghi rõ trách nhiệm người sử dụng dịch vụ không được lợi dụng mạng xã hội để hoạt động báo chí không phép; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội; cơ chế xử lý đối với người sử dụng vi phạm thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội; cảnh báo cho người sử dụng dịch vụ các rủi ro khi lưu trữ, trao đổi và chia sẻ thông tin trên mạng; cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ mạng xã hội với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội hoặc với tổ chức, cá nhân khác; cơ chế xử lý đối với khiếu nại của người sử dụng dịch vụ với thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do người sử dụng dịch vụ đăng tải trên mạng xã hội; công khai việc có hay không thu thập, xử lý các thông tin của người sử dụng dịch vụ trong thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội; mô tả biện pháp bảo đảm quyền quyết định của người sử dụng dịch vụ trong việc cho phép thu thập thông tin của mình hoặc cung cấp cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác; chính sách bảo vệ thông tin của người sử dụng dịch vụ mạng xã hội.

Như vậy, những thông tin cần được nêu rõ trong giấy phép chia sẻ dữ liệu theo quy định trên.

5. Có thể chuyển nhượng giấy phép chia sẻ dữ liệu cho bên khác không, và trong trường hợp nào?

Việc chuyển nhượng giấy phép chia sẻ dữ liệu cho bên khác phụ thuộc vào loại giấy phép, loại dữ liệu được cấp phép, quy định pháp luật và các điều khoản của hợp đồng thỏa thuận giữa các bên.

Theo Điều 23 Luật dữ liệu 2024 được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 165/2025/NĐ-CP quy định chuyển, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng xuyên biên giới bao gồm:

  • Chuyển dữ liệu đang lưu trữ tại Việt Nam tới hệ thống lưu trữ dữ liệu đặt ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam chuyển dữ liệu cho tổ chức, cá nhân nước ngoài;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng nền tảng ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xử lý dữ liệu.

Việc chuyển, xử lý dữ liệu phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Theo đó, giấy phép chia sẻ dữ liệu có thể chuyển nhượng đối với trường hợp chuyển giao thông tin dữ liệu trong chuyển giao công nghệ. Theo Điều 7 Luật Chuyển giao công nghệ 2017, chủ sở hữu công nghệ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng công nghệ. Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó cho tổ chức, cá nhân khác khi chủ sở hữu công nghệ đồng ý. Và thông tin dữ liệu là một trong các đối tượng công nghệ được chuyển giao theo điểm b khoản 1 Điều 4 Luật này.

Như vậy, việc chuyển nhượng giấy phép chia sẻ dữ liệu cho bên khác phụ thuộc vào loại giấy phép, loại dữ liệu được cấp phép, quy định pháp luật và văn bản thỏa thuận giữa các bên.

V. Bạn đang tìm luật sư giỏi, uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến giấy phép chia sẻ dữ liệu?

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về giấy phép chia sẻ dữ liệu mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.

CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Điện thoại Hotline 1: 0913449968 Hotline 2: 0913419996

Dịch vụ liên quan

Tháo gỡ khó khăn làm thủ tục cho người nước ngoài tại Việt Nam

Nền kinh tế hội nhập quốc tế thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam ngày một phát triển....

Trung tâm tin học và một số điều cần biết

Ngày nay có rất nhiều trung tâm tin học văn phòng được xây lên để đáp ứng nhu cầ...

"Chìa khóa" lao động hợp pháp cho người nước ngoài tại Việt Nam

Ở bài viết trước, chúng ta đã nói về giấy phép lao động cho người nước ngoài vào...

Điều kiện được cấp sổ đỏ mới khi đăng ký biến động đất đai từ 01/9/2021

Trong hoạt động kinh doanh, có một số trường hợp đầu tư vào các doanh...

Thủ tục xác nhận miễn giấy phép lao động đúng quy định pháp luật

Trong bài viết này, NP Law xin đưa ra một số vấn đề trong việc hỗ trợ doanh nghi...

Mất giấy phép kinh doanh cần làm gì? Hồ sơ, thủ tục xin cấp lại khó không?

Giấy phép kinh doanh là văn bản pháp lý ghi nhận hoạt động kinh doanh hợp pháp c...

Thủ tục đăng ký xin giấy phép khai thác nước ngầm hợp pháp

Giấy phép khai thác nước ngầm ( hay còn gọi là nước dưới đất) là hồ sơ cần thiết...

WhatsApp WeChat Zalo hotline 0913449968 hotline
0
Bạn đang quan tâm đến

Chúng tôi sẵn sàng tư vấn miễn phí cho bạn!

Tư vấn điện thoại Zalo Tư vấn qua Zalo