Quyền lợi của người lao động là một trong những trụ cột của pháp luật lao động, được bảo vệ thông qua nhiều cơ chế khác nhau, trong đó có việc khởi kiện khi quyền lợi bị xâm phạm. Mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây để tìm hiểu quy định về khởi kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động hiện nay.

I. Thực trạng kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ tranh chấp lao động mà người lao động khởi kiện ra tòa có xu hướng gia tăng. Các vụ kiện thường tập trung vào các vấn đề như: đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, nợ lương, bảo hiểm xã hội, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, và các hành vi phân biệt đối xử. Thực trạng này cho thấy người lao động ngày càng ý thức hơn về quyền lợi của mình và sẵn sàng sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ chúng.

II. Quy định pháp luật về kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

1. Khái niệm kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Trong thực tế “kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động” có thể hiểu là việc người lao động (hoặc tổ chức đại diện người lao động) khởi kiện ra cơ quan có thẩm quyền (thông thường là Tòa án) để yêu cầu giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động hoặc quan hệ lao động nói chung, khi nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm.

2. Hòa giải cơ sở trước khi kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật lao động 2019, tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

  • Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
  • Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
  • Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
  • Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Như vậy, đối với đa phần các tranh chấp lao động cá nhân hiện nay, việc hòa giải tại cơ sở là một bước bắt buộc trước khi người lao động có thể khởi kiện ra Tòa án.

3. Quyền lợi người lao động khi bị nghỉ việc trái pháp luật trong kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người lao động có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Theo Điều 41 Bộ luật lao động 2019, nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

  • Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

  • Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Những quy định này nhằm đảm bảo người lao động được bù đắp thỏa đáng cho việc bị mất việc làm một cách không đúng quy định của pháp luật.

III. Giải đáp một số câu hỏi kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

1. Điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng trong kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Người sử dụng lao động hoặc người lao động muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì cần đáp ứng đủ các điều kiện cơ bản như sau:

  • Có căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng: người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động 2019; người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động 2019.
  • Thực hiện đúng quy định về thời hạn báo trước.
  • Đối với người sử dụng lao động: Phải đảm bảo không thuộc các trường hợp mà pháp luật cấm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, được quy định tại Điều 37 của Bộ luật lao động 2019.

2. Quyền cho nghỉ việc của người sử dụng lao động trong kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Theo khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

  • Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
  • Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
  • Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
  • Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
  • Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
  • Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
  • Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

Người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, cho người lao động nghỉ việc khi thuộc một trong những trường hợp nêu trên.

3. Cách thức đòi quyền lợi trong kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Người lao động có thể thực hiện các bước sau để đòi quyền lợi của mình khi bị xâm phạm trong quan hệ lao động:

  • Chuẩn bị hồ sơ chứng cứ: Hợp đồng lao động, bảng lương, quyết định chấm dứt hợp đồng, văn bản trao đổi...
  • Gửi đơn yêu cầu hòa giải tại cơ sở (trong trường hợp bắt buộc);
  • Tiến hành khởi kiện đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền nếu hòa giải không thành.

Việc lựa chọn cách thức nào sẽ phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp và mong muốn của người lao động. Tuy nhiên, việc hiểu rõ các bước trên sẽ giúp người lao động chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động

Trên đây là bài viết của NPLaw về kiện liên quan đến quyền lợi của người lao động hiện nay. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.