Quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra là một vấn đề thực tiễn đang được nhiều sự quan tâm. Bài viết này, sẽ tìm hiểu quy định pháp luật về quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra và giải đáp một số thắc mắc liên quan, từ đó giúp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho quyền thừa kế của trẻ em.
I. Giới thiệu về quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra trong giai đoạn hiện nay
Trẻ em chưa sinh ra vẫn được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật Việt Nam nếu được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế. Phần di sản thai nhi được hưởng sẽ bằng với những người cùng hàng thừa kế và được người giám hộ quản lý cho đến khi trẻ đủ năng lực hành vi dân sự.
1. Khái niệm về quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra
Theo Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Theo đó, có thể hiểu, thừa kế là việc điều chỉnh dịch chuyển tài sản của người chết sang cho người khác theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật; đồng thời thực hiện về phạm vi, quyền nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền nghĩa vụ của người thừa kế.

Tại khoản 1 Điều 660 và Điều 651 Bộ luật dân sự 2015, có quy định như sau:
- Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Đồng thời theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Như vậy, theo các quy định trên, có thể hiểu, quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra là quyền được hưởng di sản thừa kế của người thừa kế đã thành thai nhưng chưa sinh ra.
2. Ví dụ về vấn đề liên quan đến quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra thực tế
Anh A và chị B là hai vợ chồng hợp pháp, anh A qua đời do tai nạn, không để lại di chúc, bố mẹ anh A đã qua đời và chị B đang mang thai con chung của hai vợ chồng.
Trong trường hợp này, theo Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 650, 651 Bộ luật dân sự 2015, những người thừa kế có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật do anh A không để lại di chúc bao gồm: chị B (vợ anh A) và đứa con chung là thai nhi đang trong bụng chị B. Đối với con chung đang trong bụng chị B sẽ được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật với điều kiện phải sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi anh A chết.
3. Tại sao cần thực hiện quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra?
Cần thực hiện quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra bởi những lý do sau:
- Đảm bảo quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật theo Điều 610 Bộ luật dân sự 2015.
- Bảo vệ quyền lợi của thai nhi: Thai nhi khi sinh ra đã là một cá nhân và có quyền được pháp luật bảo vệ, bao gồm cả quyền thừa kế tài sản mà cha mẹ đã mất để lại.
- Thúc đẩy quan hệ gia đình: Việc trao quyền thừa kế cho thai nhi khẳng định vai trò của mối quan hệ huyết thống trong việc hình thành quyền thừa kế, củng cố sự gắn kết giữa các thế hệ trong gia đình.
- Gìn giữ tài sản cho tương lai: Quy định này giúp giữ lại tài sản cho những người thừa kế tiềm năng, đảm bảo rằng di sản sẽ được truyền lại cho thế hệ sau.
III. Quy định pháp luật liên quan đến quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra
Quy định pháp luật liên quan về quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra sẽ được phân tích cụ thể bao gồm điều kiện để quyền này được công nhận và các biện pháp xử lý vi phạm liên quan quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra qua nội dung bên dưới.
1. Quy định cần lưu ý liên quan đến quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra
Theo Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 có quy định mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế theo Điều Điều 613 Bộ luật dân sự 2015. Do đó trẻ em chưa sinh ra vẫn có quyền hưởng thừa kế.
Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015:
- Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Khi thai trong bụng sinh ra nếu còn sống sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo như trên. Trẻ chưa sinh nằm trong hàng thừa kế được hưởng di sản vẫn sẽ được phân chia phần di sản bằng những người thừa kế cùng hàng.

Căn cứ theo Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc phân chia di sản như sau:
Khi phân chia di sản, nếu người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
Như vậy, người thừa kế đã thành thai nhưng chưa sinh thì tiến hành chia di sản thừa kế thì phải dành lại phần di sản đó. Nếu sinh ra còn sống thì được quyền hưởng phần di sản đó, nếu không sống thì mới tiếp tục tiến hành chia phần di sản này cho những người thừa kế khác hưởng.
2. Điều kiện để quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra được pháp luật công nhận
Theo quy định tại điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Căn cứ vào quy định nêu trên, điều kiện để quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra được pháp luật công nhận là:
- Đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
- Sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế: Sau khi người để lại di sản qua đời, thai nhi phải được sinh ra và còn sống.
3. Các biện pháp xử lý vi phạm liên quan quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra
Người thừa kế hoặc người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra khi nhận thấy quyền và lợi ích bị xâm phạm thì có thể áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm như sau:
- Thương lượng và hòa giải: Trong nhiều trường hợp, tranh chấp về quyền thừa kế có thể được giải quyết thông qua thương lượng và hòa giải giữa các bên thừa kế. Các bên có thể ngồi lại với nhau để thảo luận về các yêu cầu và tìm ra phương án giải quyết hợp lý, tránh việc kéo dài tranh chấp hoặc nhờ một bên thứ ba có thẩm quyền giải quyết.
- Khởi kiện tại Tòa án: Khi các phương án hòa giải không thành công, các bên có thể khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Xử lý hành vi vi phạm khác: Đối với các vi phạm nghiêm trọng hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp, chẳng hạn như hành vi che giấu di sản, chiếm đoạt tài sản thừa kế, có thể bị xử lý theo các quy định của pháp luật hình sự hoặc hành chính.
IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra
Để hiểu rõ hơn về quy định pháp luật liên quan quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra, sau đây NPLaw sẽ giải đáp các thắc mắc về các câu hỏi xoay quanh vấn đề này.
1. Có thể lập di chúc bảo lưu quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra hay không?
Có thể. Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Đồng thời khoản 1 Điều 611 Bộ luật này cũng quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết.
Về nguyên tắc quyền thừa kế phát sinh khi người để lại di sản chết. Tuy nhiên, đối với trường hợp thai nhi pháp luật cho phép quyền thừa kế phát sinh sau thời điểm mở thừa kế với điều kiện phải sinh ra và còn sống và đã thành thai trước khi người để lại di sản chết, nói cách khác, thai nhi được bảo lưu quyền thừa kế đến khi được sinh ra. Nếu sinh ra mà còn sống thì di chúc hoàn toàn có hiệu lực và sẽ được thi hành. Còn nếu thai nhi chưa thành thai, hoặc thành thai nhưng khi sinh ra không còn sống thì di chúc trên sẽ không được thi hành. Việc chia thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Ai là người đại diện hợp pháp bảo vệ quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra?
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015, đại diện theo pháp luật của cá nhân gồm:
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
- Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
- Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, dựa theo quy định trên, người đại diện hợp pháp bảo vệ quyền thừa kế của thai nhi chính là cha, mẹ hoặc người giám hộ.
3. Quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra trong trường hợp người cha để lại di chúc sẽ được tính thế nào?
Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Do đó, thai nhi dù chưa sinh ra nhưng vẫn có quyền hưởng thừa kế. Đồng thời theo khoản 1 Điều 659 Bộ luật dân sự 2015 có quy định, việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Cơ chế bảo vệ quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế là gì?
Cơ chế bảo vệ quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế là:
- Được bảo lưu quyền thừa kế: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015.
- Được dành lại một phần di sản khi phân chia theo pháp luật: Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng theo khoản 1 Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015.
5. Quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra có thể bị hạn chế trong trường hợp nào?
Quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra có thể bị hạn chế trong trường hợp được sinh ra và không còn sống sau thời điểm mở thừa kế hoặc đã chết trước thời điểm mở thừa kế theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015.
V. Bạn đang tìm luật sư tư vấn để được hỗ trợ hiệu quả trong tư vấn về quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về quyền thừa kế của trẻ em chưa sinh ra mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.