Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại, việc các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau là một phương thức hiệu quả, được pháp luật khuyến khích. Thỏa thuận này thường được Tòa án công nhận bằng một quyết định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, quyết định công nhận thỏa thuận này có thể bị hủy bỏ. Mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây để tìm hiểu thêm quy định về quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy hiện nay.

I. Thực trạng pháp lý liên quan đến quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

Thực tế cho thấy, sau khi Tòa án ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, vẫn có những trường hợp phát sinh yêu cầu hủy quyết định này. Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc thỏa thuận đạt được không hoàn toàn tự nguyện, có sự nhầm lẫn nghiêm trọng, hoặc vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội. Việc pháp luật quy định cơ chế hủy quyết định công nhận thỏa thuận là cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và sự ổn định của các phán quyết tư pháp.

II. Quy định của pháp luật về quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

1. Các trường hợp pháp luật cho phép ra quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

Theo khoản 2 Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về nguyên tắc tiến hành hòa giải: 

  • Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; 
  • Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Khi có tranh chấp xảy ra, việc thỏa thuận, hòa giải phải xuất phát từ sự tự nguyện của các đương sự. 

Ngoài ra, khoản 2 Điều 213 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội”.

Như vậy, trường hợp nội dung thỏa thuận của các bên là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định công nhận thỏa thuận có thể bị hủy.

2. Nguyên nhân dẫn đến việc ban hành quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

Việc Tòa án ban hành quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự sau đó lại bị hủy thường xuất phát từ việc phát hiện ra những yếu tố làm ảnh hưởng đến tính tự nguyện và hợp pháp của thỏa thuận ban đầu. Một số nguyên nhân phổ biến như:

  • Thỏa thuận không đúng ý chí thực sự của đương sự;
  • Có hành vi gian dối nhằm đạt được lợi thế trong thỏa thuận;
  • Nội dung của thỏa thuận trái quy định pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;
  • Thỏa thuận liên quan đến tài sản không thuộc quyền sở hữu của đương sự.

3. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

Theo khoản 2 Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Theo khoản 1, 2 Điều 337 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền giám đốc thẩm:

  • Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị;
  • Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị.

Như vậy, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao và Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm xem xét việc hủy bỏ quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự.

III. Giải đáp thắc mắc pháp lý liên quan đến quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

1. Khi nào thì có thể có quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy?

Khoản 2 Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội”.

Theo Điều 343 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền sau đây:

  • Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
  • Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;
  • Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;
  • Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án;
  • Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có thể bị hủy khi bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

 

2. Thời hạn để yêu cầu hủy quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy là bao lâu?

Theo Điều 334 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:

  • Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
  • Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

+ Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

+ Quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.

Như vậy, thời hạn để kháng nghị yêu cầu hủy bỏ quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự là 03 năm kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trường hợp đặc biệt thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị theo quy định trên.

3. Thủ tục pháp lý để hủy quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy?

Theo Điều 329 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thủ tục nhận đơn đề nghị xem xét quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:

Bước 1: Đương sự nộp đơn đề nghị xem xét quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự theo thủ tục giám đốc thẩm tại Tòa án, Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền.

Bước 2: Tòa án, Viện kiểm sát xem xét thụ lý đơn khi có đủ nội dung và điều kiện theo quy định.

Bước 3: Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu hồ sơ. Trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.

4. Hệ quả pháp lý sau khi có quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy?

Theo khoản 1 Điều 345 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp sau đây:

  • Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;
  • Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;
  • Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Như vậy, sau khi quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự bị hủy thì vụ việc sẽ bị xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm theo quy định trên.

5. Có thể kháng cáo hoặc yêu cầu giám đốc thẩm đối với quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy không?

Theo quy định tại Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

  • Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
  • Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Như vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy định trên.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy

Trên đây là bài viết của NPLaw về quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy hiện nay. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.