Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và các mối quan hệ dân sự, kinh doanh ngày càng trở nên phức tạp, tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Bên cạnh việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường tòa án, thỏa thuận hòa giải là một phương thức hiệu quả, linh hoạt và tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên.

I. Thực trạng thoả thuận hoà giải hiện nay

Xu hướng hiện nay cho thấy sự gia tăng đáng kể trong việc lựa chọn thỏa thuận hòa giải để giải quyết các mâu thuẫn. Với khả năng tự chủ cao trong việc tìm kiếm giải pháp và duy trì mối quan hệ, hòa giải đang dần khẳng định vị thế là một công cụ hữu hiệu bên cạnh các phương thức pháp lý truyền thống. Tuy nhiên, không ít trường hợp, do các bên lập thoả thuận không đúng quy định, thiếu điều kiện hiệu lực, dẫn đến thoả thuận không được công nhận hoặc không thể thi hành.

II. Quy định của pháp luật về thoả thuận hoà giải

1. Khái niệm thoả thuận hoà giải

Thỏa thuận hòa giải có thể hiểu là sự thống nhất ý chí của các bên tranh chấp về việc giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng đã phát sinh, thông qua việc tự nguyện thương lượng, hòa giải và đạt được một giải pháp mà cả hai bên đều chấp nhận. Thỏa thuận này có thể được lập trước, trong hoặc sau khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp tại cơ quan có thẩm quyền.

2. Nguyên tắc xác lập thoả thuận hoà giải

Việc xác lập thỏa thuận hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản theo Điều 3 Bộ luật dân sự 2015, như sau:

  • Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
  • Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
  • Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
  • Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
  • Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Tìm hiểu về thỏa thuận hòa giải

3.  Điều kiện có hiệu lực của thoả thuận hoà giải

Thỏa thuận hòa giải là một dạng của giao dịch dân sự và phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực theo Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 gồm:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp;
  • Chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện;
  • Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
  • Đáp ứng điều kiện về hình thức trong trường hợp luật có quy định.

Như vậy, thỏa thuận hòa giải phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo quy định trên.

4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong thoả thuận hoà giải

Căn cứ Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, các bên trong thỏa thuận hòa giải sẽ có một số quyền và nghĩa vụ cơ bản như sau:

Quyền:

  • Tự do bày tỏ ý kiến, đưa ra đề xuất về giải pháp hòa giải.
  • Yêu cầu cung cấp thông tin liên quan.
  • Từ chối tiếp tục hòa giải nếu cảm thấy không đạt được kết quả mong muốn.
  • Yêu cầu lập văn bản ghi nhận kết quả hòa giải.
  • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải (nếu có).

Nghĩa vụ:

  • Tham gia hòa giải với tinh thần thiện chí và hợp tác.
  • Cung cấp thông tin trung thực, đầy đủ về vụ việc tranh chấp.
  • Thực hiện đúng các thỏa thuận đã đạt được.
  • Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của bên kia.

III. Giải đáp một số thắc mắc liên quan đến thoả thuận hoà giải

1. Có thể quy định về điều khoản thoả thuận hoà giải sau khi phát sinh tranh chấp được không

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 là các bên được tự do cam kết, thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. 

Do đó, thỏa thuận hòa giải có thể được xác lập vào bất kỳ thời điểm nào sau khi tranh chấp phát sinh, thậm chí ngay cả khi vụ việc đang được tòa án thụ lý giải quyết.