Trong các giao dịch dân sự và thương mại, việc các bên cam kết và thực hiện đúng nghĩa vụ là yếu tố then chốt để đảm bảo sự tin tưởng và hiệu quả. Tuy nhiên, không phải lúc nào các nghĩa vụ cũng được thực hiện một cách đầy đủ và đúng hạn. Vậy làm thế nào để yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện để bảo vệ lợi ích của mình?

I. Thực trạng yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện

Tình trạng một bên không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật diễn ra khá phổ biến. Điều này có thể gây ra nhiều hệ lụy, từ việc ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh, gây ra thiệt hại tài chính, đến việc làm mất đi cơ hội của bên bị vi phạm. Việc nắm vững các quy định pháp luật về quyền yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện là vô cùng quan trọng để các chủ thể có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

II. Quy định pháp luật về yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện

1. Nghĩa vụ của các bên được quy định ở đâu?

Nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp lý chủ yếu được quy định tại:

  • Hợp đồng: Đây là nguồn chủ yếu xác định các nghĩa vụ cụ thể mà các bên đã thỏa thuận và cam kết thực hiện.
  • Quy định của pháp luật: Trong một số trường hợp, pháp luật trực tiếp quy định các nghĩa vụ mà các chủ thể phải tuân thủ, kể cả khi không có hợp đồng hoặc hợp đồng không quy định đầy đủ. Ví dụ, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 584 Bộ luật dân sự 2015).
  • Trong tập quán, quy ước, thỏa thuận miệng (nếu có căn cứ chứng minh).

2. Một bên không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thì bên còn lại có quyền gì?

Theo Điều 351 Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ:

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Như vậy, khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng, bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ, yêu cầu bồi thường thiệt hại, áp dụng các chế tài khác theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Các bên không ký kết hợp đồng thì có yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ được không?

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện theo Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 gồm:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
  • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
  • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
  • Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. 

Đồng thời, theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”.

Ngay cả khi các bên không ký kết hợp đồng bằng văn bản, nghĩa vụ vẫn có thể phát sinh và các bên phải tuân thủ thực hiện nếu giao dịch dân sự đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định trên. Khi đó, nếu một bên có hành vi gây thiệt hại cho bên kia, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường.

III. Giải đáp một số câu hỏi về yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện

1. Có thể khởi kiện ra Tòa để yêu cầu một bên thực hiện nghĩa vụ được không?

Theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Bên có quyền khi nhận thấy bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp thì hoàn toàn có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Có quyền ngừng thực hiện hợp đồng nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ được không?

Theo Điều 411 Bộ luật dân sự 2015:

1. Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

2. Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.

Như vậy, bên có quyền có quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình nếu nhận thấy bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận theo quy định nêu trên.

3. Có được yêu cầu tính lãi nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ thanh toán không?

Theo khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.

Như vậy, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Có thể yêu cầu bên thứ ba cùng chịu trách nhiệm nếu bên thực hiện nghĩa vụ bỏ trốn không?

Theo Điều 335 Bộ luật dân sự 2015 về bảo lãnh: 

1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Ngoài ra, đối với trường hợp về tài sản của vợ chồng. theo Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Như vậy, việc có thể yêu cầu bên thứ ba cùng chịu trách nhiệm hay không phụ thuộc vào việc có tồn tại một thỏa thuận bảo đảm hoặc quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm của bên thứ ba đối với nghĩa vụ của bên bỏ trốn. Nếu có, bên có quyền có cơ sở pháp lý để yêu cầu bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ.

5. Nếu nghĩa vụ không thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng, có phải chịu trách nhiệm không?

Theo khoản 2 Điều 351 Bộ luật dân sự 2015: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Như vậy, trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện

Trên đây là bài viết của NPLaw về yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ mà bên kia không thực hiện hiện nay. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.