Trong quan hệ lao động, quyền kháng cáo quyết định sa thải là công cụ pháp lý quan trọng giúp người lao động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi cho rằng việc sa thải là không đúng căn cứ hoặc không đúng trình tự. Thực tế cho thấy nhiều tranh chấp phát sinh do người lao động chưa hiểu rõ điều kiện, thời hạn và cách thức thực hiện quyền này.Việc nắm rõ quyền kháng cáo quyết định sa thải không chỉ giúp người lao động chủ động bảo vệ mình mà còn giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình xử lý kỷ luật.

I. Thực trạng liên quan đến quyền kháng cáo quyết định sa thải

Trong thực tiễn, nhiều người lao động chưa nhận thức đầy đủ về quyền kháng cáo quyết định sa thải, dẫn đến việc bỏ lỡ thời hạn hoặc thực hiện sai trình tự bảo vệ quyền lợi của mình. Không ít trường hợp sau khi bị sa thải, người lao động chỉ khiếu nại nội bộ mà không thực hiện các bước pháp lý cần thiết để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp chưa đánh giá đúng rủi ro pháp lý từ việc người lao động thực hiện quyền kháng cáo, đặc biệt khi quyết định sa thải có sai sót về căn cứ hoặc thủ tục. Hệ quả là phát sinh tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến uy tín, chi phí và hoạt động của doanh nghiệp.

II. Khái niệm về quyền kháng cáo quyết định sa thải

Quyền kháng cáo (thực chất trong pháp luật lao động Việt Nam thường được hiểu là quyền khiếu nại, khởi kiện) là cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ người lao động khi cho rằng quyết định sa thải của người sử dụng lao động là trái pháp luật theo Bộ luật Lao động 2019.

1. Quyền kháng cáo quyết định sa thải là gì?

Quyền kháng cáo quyết định sa thải là quyền tố tụng của đương sự yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án về tranh chấp sa thải khi cho rằng bản án, quyết định đó xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Vì vậy, quyền kháng cáo quyết định sa thải chỉ phát sinh sau khi Tòa án đã giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm và không phải là thủ tục khiếu nại nội bộ trong doanh nghiệp.

2. Kháng cáo quyết định sa thải khác gì với khiếu nại quyết định sa thải?

Kháng cáo và khiếu nại là hai cơ chế pháp lý khác nhau về bản chất, phạm vi áp dụng và cơ quan giải quyết.

Tiêu chí

Kháng cáo quyết định sa thải

Khiếu nại quyết định sa thải

Căn cứ pháp lý

Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025)

Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi 2025)

Bản chất pháp lý

Quyền tố tụng yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định sơ thẩm

Quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính

Thời điểm thực hiện

Sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án

Trước hoặc ngoài quá trình tố tụng

Đối tượng áp dụng

Bản án, quyết định của Tòa án về tranh chấp sa thải

Quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

Cơ quan giải quyết

Tòa án cấp phúc thẩm

Cơ quan đã ban hành quyết định hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp

Áp dụng với sa thải trong doanh nghiệp

Có, nếu tranh chấp đã được Tòa án giải quyết sơ thẩm

Không áp dụng vì sa thải trong doanh nghiệp không phải quyết định hành chính

Như vậy, trong tranh chấp về sa thải tại doanh nghiệp, người lao động không thực hiện khiếu nại theo Luật Khiếu nại 2011 mà có quyền khởi kiện theo Bộ luật Lao động 2019; nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm, họ mới thực hiện quyền kháng cáo theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).

3. Kháng cáo quyết định sa thải có phải là biện pháp bảo vệ quyền lợi người lao động không?

Có. Kháng cáo quyết định sa thải là một biện pháp tố tụng quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi không đồng ý với bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án về tranh chấp sa thải.

Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Điều này bảo đảm nguyên tắc xét xử hai cấp, giúp kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm.

Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm xác định bản án sơ thẩm có sai sót về áp dụng pháp luật hoặc đánh giá chứng cứ, bản án có thể bị sửa hoặc hủy theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025). Khi đó, người lao động có thể được:

  • Nhận lại làm việc;
  • Được trả tiền lương và các khoản bảo hiểm cho thời gian không được làm việc;
  • Được bồi thường.

Do đó, kháng cáo không chỉ là quyền tố tụng mà còn là cơ chế pháp lý trực tiếp bảo vệ quyền lợi người lao động khi quyết định sa thải bị xác định là trái pháp luật hoặc bản án sơ thẩm chưa bảo đảm quyền lợi của họ.

III. Quy định của pháp luật liên quan đến quyền kháng cáo quyết định sa thải

Quyền kháng cáo (theo nghĩa tố tụng) đối với quyết định sa thải được thực hiện trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp lao động theo Bộ luật Lao động 2019 và thủ tục tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).

1. Quyền kháng cáo quyết định sa thải phát sinh trong những trường hợp nào?

Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), quyền kháng cáo quyết định sa thải phát sinh khi có đủ các điều kiện sau:

  • Đã có bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án về tranh chấp sa thải: Quyền kháng cáo chỉ phát sinh sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án giải quyết vụ án lao động hoặc quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án.
  • Người thực hiện là chủ thể có quyền kháng cáo: Theo Điều 271, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo.
  • Không đồng ý với nội dung bản án hoặc quyết định sơ thẩm: Ví dụ: không đồng ý việc Tòa án bác yêu cầu hủy quyết định sa thải, không chấp nhận yêu cầu bồi thường hoặc nhận lại làm việc.
  • Thực hiện trong thời hạn luật định: Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày; đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ là 07 ngày theo Điều 273.

Theo đó, quyền kháng cáo quyết định sa thải không phát sinh ngay khi bị sa thải, mà chỉ phát sinh sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết tranh chấp và đương sự có yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

2. Người lao động nước ngoài tại Việt Nam có quyền kháng cáo quyết định sa thải theo quy định pháp luật không?

Có. Theo Điều 5 Bộ luật Lao động 2019, người lao động tại Việt Nam, bao gồm cả người lao động nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động hợp pháp, được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam.

Khi phát sinh tranh chấp về sa thải và vụ việc đã được Tòa án giải quyết ở cấp sơ thẩm, người lao động nước ngoài có quyền kháng cáo theo quy định chung của pháp luật tố tụng. Cụ thể, theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm hoặc quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Pháp luật tố tụng dân sự không phân biệt quốc tịch khi xác định quyền kháng cáo, miễn là người đó là đương sự trong vụ án và thực hiện quyền trong thời hạn theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).

Theo quy định nêu trên, người lao động nước ngoài làm việc hợp pháp tại Việt Nam hoàn toàn có quyền kháng cáo quyết định của Tòa án về tranh chấp sa thải, tương tự như người lao động Việt Nam.

3. Trình tự, thủ tục thực hiện quyền kháng cáo quyết định sa thải

Căn cứ Điều 271, 272, 273 và 274 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), trình tự thực hiện quyền kháng cáo quyết định sa thải được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Xác định điều kiện kháng cáo

  • Đã có bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án về tranh chấp sa thải.
  • Người kháng cáo là đương sự hoặc người đại diện hợp pháp theo Điều 271.
  • Thực hiện trong thời hạn luật định theo Điều 273 (15 ngày đối với bản án; 07 ngày đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ).

Bước 2: Soạn thảo đơn kháng cáo

Theo Điều 272, đơn kháng cáo phải có các nội dung:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn;
  • Thông tin người kháng cáo;
  • Phạm vi kháng cáo (toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định);
  • Lý do và yêu cầu kháng cáo;
  • Chữ ký hoặc điểm chỉ.

Trường hợp ủy quyền phải có văn bản ủy quyền hợp pháp theo khoản 6 Điều 272.

Bước 3: Nộp đơn kháng cáo

  • Đơn phải gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo theo khoản 7 Điều 272.
  • Có thể kèm theo tài liệu, chứng cứ bổ sung theo khoản 8 Điều 272.

Bước 4: Tòa án kiểm tra đơn kháng cáo

Theo Điều 274:

  • Tòa án kiểm tra tính hợp lệ của đơn;
  • Nếu chưa hợp lệ, yêu cầu sửa đổi, bổ sung;
  • Nếu không có quyền kháng cáo hoặc không sửa đổi theo yêu cầu, Tòa án trả lại đơn.

Bước 5: Nộp tạm ứng án phí phúc thẩm

  • Sau khi đơn hợp lệ, người kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo thông báo của Tòa án.

Bước 6: Xét xử phúc thẩm

  • Hồ sơ được chuyển đến Tòa án cấp phúc thẩm.
  • Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).

Có thể khẳng định rằng, việc thực hiện quyền kháng cáo quyết định sa thải phải tuân thủ chặt chẽ quy định về chủ thể, hình thức, thời hạn và trình tự thì mới được Tòa án xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

4. Kết quả giải quyết kháng cáo quyết định sa thải có thể bị thay đổi hoặc hủy bỏ không?

Có. Theo nguyên tắc xét xử hai cấp trong tố tụng dân sự và quy định tại Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), Tòa án cấp phúc thẩm khi giải quyết kháng cáo có quyền:

  • Giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm nếu thấy việc giải quyết của cấp sơ thẩm là đúng pháp luật;
  • Sửa bản án, quyết định sơ thẩm nếu có sai sót trong việc áp dụng pháp luật hoặc đánh giá chứng cứ;
  • Hủy bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại;
  • Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu có căn cứ theo luật định.

Trong tranh chấp về sa thải, nếu Tòa án cấp phúc thẩm xác định bản án sơ thẩm áp dụng sai quy định của Bộ luật Lao động 2019 hoặc đánh giá chứng cứ không khách quan, thì kết quả giải quyết có thể bị sửa hoặc hủy.

Theo đó, kết quả giải quyết kháng cáo quyết định sa thải hoàn toàn có thể bị thay đổi hoặc hủy bỏ nếu có căn cứ pháp lý và đây chính là cơ chế bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng pháp luật ở cấp phúc thẩm.

IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến quyền kháng cáo quyết định sa thải

Quyền kháng cáo trong tranh chấp về sa thải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), trên cơ sở tranh chấp lao động theo Bộ luật Lao động 2019. Sau đây là phần giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến quyền kháng cáo quyết định sa thải.

1. Quyền kháng cáo quyết định sa thải có giới hạn về thời gian hay không?

Có. Quyền kháng cáo quyết định sa thải bị giới hạn bởi thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Theo khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025):

  • Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Nếu đương sự vắng mặt khi tuyên án có lý do chính đáng thì thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Theo khoản 2 Điều 273 Bộ luật này:

  • Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án là 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết.

Nếu hết thời hạn nêu trên mà không thực hiện kháng cáo, bản án hoặc quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật và không còn quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, trừ trường hợp được xem xét theo thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm) theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Do đó, quyền kháng cáo quyết định sa thải không phải là quyền vô thời hạn mà phải được thực hiện đúng thời hạn luật định.

2. Người lao động có thể ủy quyền cho người khác thực hiện quyền kháng cáo quyết định sa thải không?

Có. Theo khoản 3 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), người kháng cáo là cá nhân nếu không tự mình thực hiện quyền kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện kháng cáo.

Việc ủy quyền phải đáp ứng các điều kiện sau:

  • Có văn bản ủy quyền hợp pháp, được công chứng, chứng thực theo khoản 6 Điều 272;
  • Trường hợp văn bản ủy quyền được lập tại Tòa án và có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được phân công thì không bắt buộc công chứng, chứng thực;
  • Trong đơn kháng cáo phải ghi rõ thông tin người đại diện theo ủy quyền và kèm theo văn bản ủy quyền.

Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn kháng cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 272.

Theo đó, người lao động hoàn toàn có quyền ủy quyền cho luật sư hoặc người khác đại diện thực hiện quyền kháng cáo quyết định sa thải, miễn bảo đảm đúng hình thức và thủ tục theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025).

3. Trường hợp kháng cáo quyết định sa thải không được chấp nhận, người lao động cần làm gì?’

Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo Điều 308  Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), bản án phúc thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án theo Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).

Khi đó, người lao động có thể xem xét các phương án pháp lý sau:

  • Yêu cầu xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm: Nếu phát hiện bản án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, người lao động có thể đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định tại Chương XX và Chương XXI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).
  • Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kháng nghị: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), Viện kiểm sát hoặc Chánh án Tòa án có thẩm quyền có thể kháng nghị bản án đã có hiệu lực nếu có căn cứ luật định.
  • Thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng lao động: Trong thực tế, các bên vẫn có thể thỏa thuận về quyền lợi sau khi bản án có hiệu lực, miễn không trái pháp luật.

Cần lưu ý, sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, người lao động không còn quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Việc xem xét lại chỉ có thể thực hiện theo các thủ tục đặc biệt nêu trên và phải có căn cứ pháp lý rõ ràng.

4. Quyền kháng cáo quyết định sa thải có thể được thực hiện nhiều lần không?

Không. Theo nguyên tắc xét xử hai cấp trong tố tụng dân sự, kháng cáo chỉ được thực hiện đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).

Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm xét xử và ra bản án phúc thẩm, bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án theo Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025). Khi đó, đương sự không còn quyền kháng cáo lần thứ hai theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp đặc biệt, bản án đã có hiệu lực pháp luật chỉ có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định tại Chương XX và Chương XXI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), nhưng đây không phải là quyền kháng cáo thông thường mà là thủ tục đặc biệt do người có thẩm quyền kháng nghị thực hiện.

Theo đó, quyền kháng cáo quyết định sa thải chỉ được thực hiện một lần theo thủ tục phúc thẩm.

5. Người lao động có được bảo vệ quyền lợi trong thời gian chờ giải quyết kháng cáo không?

Có, người lao động có được bảo vệ quyền lợi trong thời gian chờ giải quyết kháng cáo. Theo Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025), trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nếu có căn cứ cho rằng quyền lợi đó đang bị xâm phạm hoặc có nguy cơ bị xâm phạm.

Ngoài ra:

  • Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nếu đang trong thời hạn kháng cáo theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).
  • Nếu có yêu cầu thi hành án ngay hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm, Tòa án sẽ xem xét theo quy định pháp luật.

Trong thực tiễn tranh chấp sa thải, người lao động có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc yêu cầu bồi thường nếu Tòa án xác định quyết định sa thải trái pháp luật theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.

Có thể khẳng định rằng, trong thời gian chờ giải quyết kháng cáo, người lao động vẫn được pháp luật bảo đảm cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp thông qua các biện pháp tố tụng phù hợp.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về quyền kháng cáo quyết định sa thải

Việc kháng cáo trong các tranh chấp lao động, đặc biệt liên quan đến quyết định sa thải, đòi hỏi người lao động hoặc doanh nghiệp phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về thời hạn, hình thức đơn kháng cáo và thủ tục tố tụng. Chỉ một sai sót nhỏ về thủ tục cũng có thể khiến quyền kháng cáo không được Tòa án chấp nhận hoặc làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.

Với đội ngũ luật sư có kinh nghiệm trong lĩnh vực lao động và tố tụng, NPLaw có thể hỗ trợ đánh giá hồ sơ vụ việc, tư vấn chiến lược kháng cáo phù hợp, chuẩn bị đơn từ và tài liệu cần thiết theo đúng quy định pháp luật. Sự đồng hành của luật sư giúp khách hàng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một cách hiệu quả, đồng thời hạn chế các rủi ro pháp lý trong quá trình giải quyết tranh chấp. 

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.