Lao động nữ đóng một vai trò không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, họ cũng đối mặt với nhiều thách thức và cần được bảo vệ đặc biệt để đảm bảo công bằng và bình đẳng trong công việc. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ và nâng cao quyền lợi cho lao động nữ. Vậy, quyền lợi của lao động nữ được quy định như thế nào? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu chi tiết trong bài viết này.
Lao động nữ đóng một vai trò không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, họ cũng đối mặt với nhiều thách thức và cần được bảo vệ đặc biệt để đảm bảo công bằng và bình đẳng trong công việc. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ và nâng cao quyền lợi cho lao động nữ. Vậy, quyền lợi của lao động nữ được quy định như thế nào? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu chi tiết trong bài viết này.
I. Nhu cầu tìm hiểu các quy định liên quan đến quyền lợi của lao động nữ
Việc tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi của lao động nữ tại Việt Nam là nhu cầu thiết yếu và ngày càng được quan tâm trong bối cảnh hiện đại. Lao động nữ thường đối mặt với những thách thức đặc thù như mang thai, sinh con, chăm sóc con nhỏ và nguy cơ bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Do đó, việc nắm rõ các quyền lợi được pháp luật bảo vệ không chỉ giúp họ đảm bảo sức khỏe, thu nhập và sự ổn định trong công việc, mà còn là cơ sở để tự bảo vệ mình trước những hành vi vi phạm từ phía người sử dụng lao động.

Pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ và hỗ trợ lao động nữ, đặc biệt trong các giai đoạn mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ. Tuy nhiên, việc thực thi và giám sát các quy định này vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng một số lao động nữ chưa được hưởng đầy đủ quyền lợi của mình. Do đó, việc tìm hiểu và cập nhật thông tin về các quyền lợi pháp lý là bước quan trọng giúp lao động nữ chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân.
II. Quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi của lao động nữ
1. Các quyền lợi của lao động nữ theo quy định pháp luật hiện hành?
Dưới đây là một số quyền lợi của lao động nữ theo quy định hiện hành:
1.1. Khám chuyên khoa phụ sản 1 lần mỗi năm
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và khoản 1 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người lao động (NLĐ) được khám sức khỏe ít nhất 1 lần mỗi năm. Với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (hoặc đặc biệt như vậy), người khuyết tật, lao động chưa thành niên hoặc người lao động cao tuổi thì được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần.
Trong các đợt khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ sẽ được khám thêm chuyên khoa phụ sản theo danh mục do Bộ Y tế ban hành.
1.2. Nghỉ 30 phút mỗi ngày khi đến kỳ kinh
Theo khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ được nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh. Khoảng thời gian này được tính vào giờ làm việc và vẫn được hưởng nguyên lương.
Số ngày nghỉ trong kỳ kinh sẽ do hai bên thỏa thuận, nhưng tối thiểu phải là 3 ngày làm việc mỗi tháng. Nếu người lao động không nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý, thì sẽ được trả thêm tiền lương tương ứng với thời gian đáng lẽ được nghỉ.
1.3. Nghỉ 60 phút mỗi ngày khi nuôi con dưới 12 tháng
Căn cứ khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 4 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút mỗi ngày trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt - trữ sữa hoặc nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ này vẫn được tính vào giờ làm việc và hưởng nguyên lương.
1.4. Được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm bớt 1 giờ làm việc khi mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng
Theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, nếu đang mang thai và làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con, lao động nữ có quyền đề nghị chuyển sang công việc nhẹ hơn. Người sử dụng lao động phải sắp xếp công việc phù hợp, an toàn hơn mà không được cắt giảm lương hoặc các quyền lợi khác, cho đến khi con tròn 12 tháng tuổi.
Ngoài ra, theo Điều 142 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin rõ ràng về tính chất công việc, mức độ nguy hiểm, và phải đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động khi sử dụng lao động nữ vào các công việc có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hoặc nuôi con (danh mục được quy định tại Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH).
1.5. Không phải làm đêm, làm thêm hoặc đi công tác xa khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ
Căn cứ khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được phân công lao động nữ làm ca đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa trong các trường hợp:
- Đang mang thai từ tháng thứ 7 trở đi, hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
- Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (trừ khi người lao động đồng ý).
1.6. Ưu tiên ký hợp đồng mới nếu hết hạn hợp đồng trong thời gian mang thai hoặc nuôi con nhỏ
Theo khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, nếu hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người sử dụng lao động phải ưu tiên ký hợp đồng mới với người lao động đó.
1.7. Không bị xử lý kỷ luật trong thời gian mang thai và nuôi con nhỏ
Điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019 quy định rằng người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động nữ khi đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Nếu người lao động có vi phạm trong thời gian này, họ sẽ không bị xử lý ngay. Tuy nhiên, sau khi hết thời gian trên, người sử dụng lao động vẫn có thể áp dụng kỷ luật nếu còn trong thời hiệu xử lý theo luật.
1.8. Nghỉ thai sản trước và sau sinh
Theo Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau sinh tổng cộng 6 tháng. Trong đó, thời gian nghỉ trước sinh không quá 2 tháng.
Nếu sinh đôi trở lên, từ con thứ 2 trở đi, mẹ được nghỉ thêm 1 tháng cho mỗi con.
Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Nếu muốn nghỉ thêm sau thời gian này, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không lương.
Người lao động cũng có thể quay lại làm việc sớm (ít nhất sau 4 tháng nghỉ), nếu có xác nhận của cơ sở y tế rằng việc đi làm sớm không ảnh hưởng đến sức khỏe. Trong trường hợp này, ngoài lương do người sử dụng lao động trả, người lao động vẫn được hưởng trợ cấp thai sản.
1.9. Được đảm bảo việc làm sau khi nghỉ thai sản
Theo Điều 140 Bộ luật Lao động 2019, khi quay trở lại làm việc sau nghỉ thai sản, người lao động được đảm bảo được làm công việc cũ với mức lương và quyền lợi không bị giảm. Nếu công việc cũ không còn, người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác có mức lương không thấp hơn trước khi nghỉ.
1.10. Không bị sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ
Theo Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
1.11. Nơi làm việc có từ 1.000 lao động nữ phải có phòng vắt - trữ sữa mẹ
Theo khoản 5 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, doanh nghiệp sử dụng từ 1.000 lao động nữ trở lên phải bố trí phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc.
Ngoài ra, pháp luật cũng khuyến khích các doanh nghiệp khác lắp đặt phòng vắt - trữ sữa mẹ tùy theo điều kiện thực tế và nhu cầu của người lao động.
Lưu ý:
- Người sử dụng lao động vi phạm các quy định từ mục 2 đến 11 có thể bị xử phạt từ 10 triệu đến 20 triệu đồng (khoản 2 Điều 28 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Nếu sa thải trái luật phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người sử dụng lao động có thể bị xử lý hình sự theo Điều 162 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) với mức phạt từ 100 – 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 1 – 3 năm.
1.12. Lao động nữ có thể đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn hợp đồng khi mang thai nếu sức khỏe không đảm bảo
Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Lao động 2019, nếu tiếp tục làm việc gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi và có xác nhận của cơ sở y tế, lao động nữ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần tuân thủ thời gian báo trước.
Ngoài ra, nếu lao động nữ mang thai có xác nhận của cơ sở y tế rằng việc tiếp tục làm sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi, thì có thể tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời gian tạm hoãn do hai bên thỏa thuận, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian nghỉ được chỉ định trong giấy xác nhận. Nếu không có thời gian cụ thể, hai bên tự thỏa thuận.

1.13. Được đối xử bình đẳng như lao động nam về lương, thưởng, thăng tiến
Theo khoản 1 Điều 78 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động phải bảo đảm quyền bình đẳng giữa lao động nữ và nam trong mọi mặt: tuyển dụng, sử dụng, tiền lương, thưởng, thăng tiến, bảo hiểm, điều kiện làm việc…
Lưu ý: Nếu vi phạm, người sử dụng lao động có thể bị phạt từ 5 triệu đến 10 triệu đồng (khoản 1 Điều 28 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
1.14. Được hưởng chế độ thai sản theo BHXH
Căn cứ các Điều 32,33,34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014:
- Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ đi khám thai 5 lần, mỗi lần không quá 02 ngày.
- Nếu sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu... thì được nghỉ từ 10 đến 50 ngày tùy theo tuổi thai. Ngoài ra, trường hợp lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 của Luật này mà bị sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ thì lao động nữ và người chồng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như trường hợp lao động nữ sinh con.
- Khi sinh con, lao động nữ được nghỉ thai sản 6 tháng. Nếu sinh đôi trở lên thì từ con thứ hai, mỗi con được nghỉ thêm 1 tháng.
Do đó, cả người lao động và người sử dụng lao động đều cần nắm vững và thực hiện đầy đủ các quy định liên quan để góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
2. Quyền lợi của lao động nữ khi mang thai và nghỉ thai sản được bảo đảm ra sao?
Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 thì phụ nữ mang thai được pháp luật bảo vệ với nhiều quyền lợi nhằm đảm bảo sức khỏe và điều kiện làm việc phù hợp, bao gồm:
- Không phải làm việc nặng, tăng ca hoặc đi công tác xa
- Được chuyển sang công việc nhẹ hơn
- Không bị sa thải trong thời gian mang thai hoặc nghỉ thai sản
- Được ưu tiên ký lại hợp đồng khi hết hạn:
- Được nghỉ việc nếu ảnh hưởng đến thai nhi.
- Được nghỉ thai sản.
- Được hưởng chế độ thai sản.
- Không bị kỷ luật trong thời gian thai sản.
Tóm lại, những quy định nêu trên thể hiện sự quan tâm đặc biệt của pháp luật lao động đối với lao động nữ trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ.
III. Giải đáp các thắc mắc liên quan đến quyền lợi của lao động nữ
1. Lao động nữ khi mang thai có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không theo quy định về quyền lợi của lao động nữ?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Trong trường hợp này, người lao động phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận nêu trên. Do đó, người lao động nữ nếu có xác nhận của cơ sở y tế về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần tuân thủ các quy định về thời hạn báo trước.
2. Lao động nữ đang mang thai có bị xử lý kỷ luật lao động không theo quy định về quyền lợi của lao động nữ?
Theo điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật đối với người lao động đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của lao động nữ trong giai đoạn đặc biệt này.
3. Quyền lợi của lao động nữ khi nghỉ thai sản được quy định như thế nào theo chế độ bảo hiểm xã hội?
Theo Điều 34 của Luật, lao động nữ sinh con sẽ được nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản với thời gian tối đa là 6 tháng, bao gồm cả thời gian nghỉ trước và sau khi sinh. Trong đó, thời gian nghỉ trước sinh không được quá 2 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh từ hai con trở lên (sinh đôi, sinh ba...), thì bắt đầu từ con thứ hai trở đi, mỗi con sẽ được nghỉ thêm 1 tháng. Ví dụ, nếu sinh đôi thì tổng thời gian nghỉ là 7 tháng, sinh ba là 8 tháng, và cứ thế tính thêm.
Ngoài ra, lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội cũng được nghỉ thai sản khi vợ sinh con, cụ thể như sau:
- Nghỉ 5 ngày làm việc nếu vợ sinh thường;
- Nghỉ 7 ngày làm việc nếu vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;
- Nghỉ 10 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi; từ sinh ba trở lên thì mỗi con tăng thêm được nghỉ thêm 3 ngày;
- Nếu vợ sinh đôi trở lên và phải phẫu thuật, chồng được nghỉ 14 ngày làm việc.
Lưu ý: thời gian nghỉ này được tính trong 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
Trong một số trường hợp không may, nếu con dưới 2 tháng tuổi bị mất sau khi sinh, người mẹ được nghỉ tiếp 4 tháng tính từ ngày sinh con. Nếu con từ 2 tháng tuổi trở lên bị mất, người mẹ được nghỉ thêm 2 tháng kể từ ngày con mất. Tuy nhiên, tổng thời gian nghỉ không được vượt quá mức nghỉ thai sản tối đa quy định ban đầu là 6 tháng.
Vì vậy, việc quy định thời gian nghỉ thai sản hợp lý không chỉ giúp người mẹ có thời gian phục hồi sức khỏe và chăm sóc con nhỏ, mà còn thể hiện sự nhân văn trong chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực và gia đình.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến quyền lợi của lao động nữ
Trên đây là những vấn đề pháp lý về quyền lợi của lao động nữ mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ ngay với NPLaw.