I. Thực trạng hiện nay của quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí

Với sự  phát triển mạnh mẽ của truyền thông đa phương tiện và Internet, quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí đang đối mặt với nhiều thách thức. Các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường truyền thông số diễn ra ngày càng phổ biến cả về số lượng lẫn tính chất, mức độ tinh vi, phức tạp của hành vi vi phạm pháp luật. Vậy pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!

II. Quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí là gì?

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022), quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

Đồng thời căn cứ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Báo chí 2016 quy định như sau:

- Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.

- Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình.

Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí là các quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm báo chí do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu.

1. Quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí bao gồm những gì?

Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022).

Trong đó, theo khoản 2, 3, 4 Điều 4 Luật này quy định:

- Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

- Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

- Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

 

Dựa vào các quy định trên, có thể hiểu, quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí có thể bao gồm:

- Quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí, theo đó tác phẩm báo chí là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022).

Căn cứ khoản 3 Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, tác phẩm báo chí là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác.

- Quyền liên quan đến quyền tác giả theo Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022) bao gồm: quyền của người biểu diễn (ví dụ: người dẫn chương trình, người trả lời phỏng vấn), nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình (ví dụ: người quay phim, biên tập viên âm thanh), tổ chức phát sóng (ví dụ: đài truyền hình, đài phát thanh).

- Quyền sở hữu công nghiệp: Mặc dù không trực tiếp liên quan đến tác phẩm báo chí, nhưng quyền sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu báo chí cũng có thể được áp dụng để bảo vệ tên, logo của các tờ báo, tạp chí.

2. Những hình thức vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí thường gặp là gì?

Trong lĩnh vực báo chí, các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thường gặp bao gồm:

+ Sao chép trái phép: In ấn, sao chép, hoặc phân phối bản sao của tác phẩm báo chí mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. 

+ Sử dụng trái phép: Đăng lại, phát tán, hoặc sử dụng tác phẩm báo chí trên các phương tiện truyền thông khác, như trang web, mạng xã hội, hoặc các ấn phẩm khác mà không có sự cho phép. 

+ Sửa đổi trái phép: Chỉnh sửa, cắt xén, hoặc thay đổi nội dung, hình ảnh, hoặc bất kỳ yếu tố nào của tác phẩm báo chí mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác‍ giả, đặc biệt khi việc sửa đổi đó gây ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của tác giả. 

+ Mạo danh tác giả: Tự nhận mình là tác giả của tác phẩm báo chí khi không phải là tác giả. 

+ Phân phối tác phẩm mà không được phép: Phát tán tác phẩm báo chí đến công chúng mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. 

+ Sử dụng tác phẩm để làm tác phẩm phái sinh: Tạo ra các tác phẩm mới dựa trên tác phẩm báo chí (ví dụ: dịch, chuyển thể, phóng tác) mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. 

+ Không trả tiền nhuận bút, thù lao: Sử dụng tác phẩm báo chí cho mục đích thương mại mà không trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc các quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. 

III. Quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí

1. Quy trình đăng ký quyền sở hữu trí tuệ cho tác phẩm báo chí diễn ra như thế nào?

Tác phẩm báo chí là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022).

Căn cứ Điều 38, 39 Nghị định 17/2023/NĐ-CP và Điều 49, 50 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022), quy trình đăng ký quyền sở hữu trí tuệ cho tác phẩm báo chí như sau:

- Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm báo chí nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan theo cách thức trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam. Hồ sơ đăng ký bao gồm:

+ Tờ khai đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí (theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 08/2023 TT-BVHTTDL) do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên hoặc điểm chỉ, trừ trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm chỉ;

+ 02 bản sao tác phẩm (bao gồm cả bản điện tử);

+ Giấy uỷ quyền thực hiện thủ tục cho cá nhân hoặc Giấy ủy quyền thực hiện thủ tục cho tổ chức, nếu người nộp hồ sơ là người được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền;

+ Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền tác phẩm báo chí;

Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả phải có văn bản cam đoan về việc tự sáng tạo và sáng tạo theo quyết định hoặc xác nhận giao việc; hợp đồng; tham gia cuộc thi và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung cam đoan.

Tài liệu chứng minh chủ sở hữu quyền do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo quy định tại khoản này phải là bản gốc hoặc bản sao có công chứng, chứng thực;

+ Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;

+ Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung;

+ Trường hợp trong tác phẩm có sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó theo quy định của pháp luật.

- Nơi nộp hồ sơ: Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

- Phương thức nộp hồ sơ: Nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng dịch vụ công trực tuyến của Cục Bản quyền tác giả.

- Thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

2. Có thể bị xử lý hình sự nếu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí không?

Có thể. Căn cứ quy định Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022) thì tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, ­­có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Do đó, biện pháp hình sự là một trong các biện pháp được áp dụng để chế tài đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí.

IV. Giải đáp các thắc mắc về quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí

1. Tác giả của bài báo có quyền gì về quyền sở hữu trí tuệ của mình?

Điều 18, 19, 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022), tác giả của bài báo có hai nhóm quyền chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ: quyền nhân thân và quyền tài sản. Theo đó:

Quyền nhân thân bao gồm:

- Đặt tên cho tác phẩm. Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định của Luật này;

- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

- Làm tác phẩm phái sinh;

- Sao chép tác phẩm;

- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác.

2. Làm thế nào để xác định quyền sở hữu trí tuệ đối với bài viết đã được xuất bản?

Căn cứ quy định khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022), quyền sở hữu trí tuệ đối với bài viết đã được xuất bản được xác định dựa trên các căn cứ sau:

- Tính sáng tạo: Bài báo phải là một tác phẩm gốc, thể hiện sự sáng tạo của tác giả.

- Thể hiện dưới hình thức vật chất: Bài báo phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, ví dụ như bản in, bản mềm trên máy tính, hoặc trên một phương tiện lưu trữ khác.

- Không phụ thuộc vào việc công bố, đăng ký: Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo, bất kể việc đã công bố hay chưa, đã đăng ký hay chưa. Nếu bài báo đã được đăng ký quyền tác giả tại cơ quan có thẩm quyền, thì Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là căn cứ quan trọng để xác định quyền sở hữu trí tuệ.

- Không phụ thuộc vào chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ.

3. Quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí có ảnh hưởng đến việc chia sẻ thông tin không?

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 quy định về các hành vi xâm phạm quyền tác giả, trong đó bao gồm: Xâm phạm quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định tại Điều 19, 20 Luật này. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Do đó, việc chia sẻ lại thông tin trên các báo điện tử là hành vi sao chép tác phẩm thuộc một trong các quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả, tuy nhiên chỉ áp dụng với các thông tin báo chí có bản quyền độc quyền (ví dụ: các quyền tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005) mà không áp dụng với mọi thông tin nói chung, pháp luật vẫn có quy định trường hợp ngoại lệ.

 

Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định về những trường hợp ngoại lệ mà khi chia sẻ thông tin không làm ảnh hưởng quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí như sau:

- Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định như sau: tin tức thời sự thuần túy đưa tin quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, tin vặt, số liệu sự thật, chỉ mang tính chất đưa tin, không có tính sáng tạo.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009) quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao như sau:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

4. Việc sao chép nội dung báo chí mà không xin phép có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không?

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 quy định về các hành vi xâm phạm quyền tác giả, trong đó việc sao chép nội dung báo chí mà không xin phép có vi phạm quyền tài sản theo quy định tại điểm c Điều 20 Luật này, trừ các trường hợp ngoại lệ không phải xin phép. Như vậy, việc sao chép nội dung báo chí mà không xin phép có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trừ các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022).

5. Làm thế nào để người tiêu dùng nhận biết vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong báo chí?

Người tiêu dùng có thể nhận biết vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong báo chí bằng cách chú ý đến các dấu hiệu sau:

- Trích dẫn, sao chép nội dung không rõ nguồn gốc: Khi đọc một bài báo, nếu thấy một đoạn văn, một ý tưởng, một câu nói được trích dẫn mà không có nguồn rõ ràng, hoặc nguồn không chính xác, thì có thể đó là dấu hiệu của việc vi phạm bản quyền. 

- Sử dụng hình ảnh, logo, bài viết mà không được phép: Báo chí thường sử dụng hình ảnh, logo, bài viết từ nhiều nguồn khác nhau. Nếu các hình ảnh, logo, bài viết này được sử dụng mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu, thì đó là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. 

- Thông tin bị thay đổi, xuyên tạc so với bản gốc: Việc thay đổi, xuyên tạc nội dung của một tác phẩm gốc mà không có sự đồng ý của tác giả cũng là một hành vi vi phạm bản quyền. 

- Thiếu thông tin về tác giả, nguồn gốc xuất xứ: Một bài báo hoặc tác phẩm nào đó được công bố mà không có thông tin về tác giả, nguồn gốc xuất xứ, hoặc thông tin này không chính xác, thì người tiêu dùng nên nghi ngờ về tính hợp pháp của nó. 

- Ngoài ra, người tiêu dùng có thể tìm hiểu thêm thông tin về quyền sở hữu trí tuệ, các quy định pháp luật liên quan để có thể nhận biết và phản ánh các hành vi vi phạm. 

V. Vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí có nên liên hệ luật sư không? Liên hệ như thế nào?

Việc liên hệ luật sư khi có vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí là rất nên cân nhắc, đặc biệt là khi đối mặt với các tình huống phức tạp hoặc có nguy cơ bị xâm phạm quyền. Luật sư có chuyên môn về sở hữu trí tuệ có thể giúp bạn hiểu rõ quyền lợi, đưa ra lời khuyên pháp lý, và bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. 

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về quyền sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.