I. Giới thiệu về quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện trong giai đoạn hiện nay
Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong sự kiện là yếu tố ngày càng được chú trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, triển lãm hay hội nghị không chỉ đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu, mà còn là môi trường tạo ra, khai thác và bảo vệ các giá trị sáng tạo. Trong một sự kiện, quyền SHTT có thể bao gồm nhiều khía cạnh như: bản quyền đối với nội dung chương trình, quyền đối với hình ảnh, nhãn hiệu của sự kiện, quyền đối với các thiết kế, sáng chế được giới thiệu, hay các quyền liên quan đến nhà tổ chức và nhà tài trợ.
Giai đoạn hiện nay, với sự bùng nổ của công nghệ số và truyền thông trực tuyến, việc bảo hộ quyền SHTT trong sự kiện trở nên phức tạp hơn nhưng cũng quan trọng hơn bao giờ hết. Nội dung của sự kiện có thể bị sao chép, phát tán hoặc khai thác trái phép trên nhiều nền tảng, gây thiệt hại cho chủ thể quyền và làm giảm giá trị thương mại của sự kiện. Đồng thời, các quy định pháp luật về SHTT cũng ngày càng hoàn thiện, yêu cầu các đơn vị tổ chức phải chú trọng đến việc đăng ký, quản lý và thực thi quyền một cách chuyên nghiệp.
Việc hiểu và áp dụng đúng các quy định về quyền SHTT không chỉ giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, mà còn góp phần nâng cao uy tín, giá trị thương hiệu của sự kiện, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững trong ngành tổ chức sự kiện.
1. Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Theo đó, Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong sự kiện là tập hợp các quyền pháp lý được pháp luật bảo hộ đối với những sản phẩm sáng tạo trí tuệ, dấu hiệu nhận diện và nội dung được tạo ra, sử dụng hoặc trình bày trong quá trình tổ chức sự kiện
2. Ví dụ về vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện thực tế
Một ví dụ thực tế về vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện là vụ tranh chấp bản quyền tại Lễ hội Âm nhạc Coachella (Mỹ).
Trong một năm tổ chức, ban tổ chức Coachella đã ký hợp đồng với các nghệ sĩ và hãng thu âm để phát sóng trực tiếp một số tiết mục trên nền tảng trực tuyến. Tuy nhiên, một số kênh truyền thông và tài khoản mạng xã hội đã quay, phát lại hoặc tải toàn bộ phần biểu diễn lên YouTube, TikTok mà không xin phép. Hành vi này vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan của nghệ sĩ, nhà sản xuất và ban tổ chức.
Vấn đề trở nên nghiêm trọng khi các video trái phép thu hút lượng xem rất lớn, làm ảnh hưởng đến doanh thu từ bản quyền phát sóng trực tuyến mà ban tổ chức đã bán cho các đối tác truyền thông. Ban tổ chức đã phải gửi yêu cầu gỡ bỏ nội dung và tiến hành các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền lợi.
3. Tại sao cần thực hiện quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong sự kiện đóng vai trò quan trọng nhằm bảo vệ giá trị sáng tạo, quyền lợi kinh tế và uy tín của nhà tổ chức.
Trong các sự kiện, đặc biệt là lễ hội, chương trình nghệ thuật, hội thảo hay triển lãm, có rất nhiều sản phẩm trí tuệ được tạo ra như kịch bản, thiết kế sân khấu, logo, video, hình ảnh và nội dung trình bày. Nếu không bảo hộ, những thành quả này dễ bị sao chép, sử dụng trái phép, gây thiệt hại về kinh tế và làm giảm sức hút của sự kiện.
Thực hiện quyền SHTT còn giúp đảm bảo nguồn thu hợp pháp từ việc bán vé, bản quyền phát sóng, quảng cáo hay khai thác hình ảnh thương hiệu, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật trong nước và quốc tế, tránh tranh chấp hoặc xử phạt.
Quan trọng hơn, việc tôn trọng và thực thi quyền SHTT tạo động lực cho các cá nhân, tổ chức tiếp tục đổi mới, sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng và thương hiệu sự kiện, qua đó củng cố niềm tin từ khán giả, nhà tài trợ và đối tác.
III. Quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Trong bối cảnh các sự kiện ngày càng đa dạng về hình thức và quy mô, việc nắm rõ các quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố then chốt để bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà tổ chức, đối tác và cá nhân tham gia, đồng thời đảm bảo mọi hoạt động được triển khai đúng chuẩn mực và tuân thủ quy định.
1. Quy định cần lưu ý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Khi tổ chức hoặc tham gia một sự kiện, việc hiểu rõ và tuân thủ các quy định cần lưu ý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là điều thiết yếu, nhằm tránh rủi ro pháp lý, bảo vệ giá trị sáng tạo và đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên liên quan.
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Theo Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ 2005 Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ gồm:

+ Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
+ Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
+ Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống.
Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ
Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), giới hạn quyền sở hữu trí tuệ được quy định như sau:
- Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019).
- Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2. Điều kiện để được áp dụng quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Các căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), cụ thể như sau:
- Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
- Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
- Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019) hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019) hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
+ Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
- Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019).
3. Các biện pháp xử lý vi phạm liên quan quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005, tổ chức hoặc cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT của người khác sẽ bị xử lý tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Khi cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu – nhập khẩu liên quan đến SHTT, hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
1. Biện pháp dân sự
Biện pháp dân sự được áp dụng theo yêu cầu của chủ thể quyền SHTT hoặc cá nhân, tổ chức bị thiệt hại, kể cả khi hành vi xâm phạm đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự. Theo Điều 202 Luật SHTT năm 2005, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp sau:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu hủy hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện chủ yếu dùng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền SHTT, với điều kiện không ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ sở hữu.

2. Biện pháp hành chính
Theo Điều 211 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2009), biện pháp hành chính được áp dụng đối với các hành vi như:
- Xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc xã hội;
- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về SHTT;
- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo.
Hình thức xử phạt chính gồm: cảnh cáo, phạt tiền. Ngoài ra, tùy mức độ vi phạm, có thể áp dụng các hình thức bổ sung như tịch thu hàng hóa giả mạo, nguyên liệu, phương tiện vi phạm hoặc đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn. Các quy định xử phạt chi tiết được Chính phủ hướng dẫn tại Nghị định 131/2013/NĐ-CP.
3. Biện pháp hình sự
Theo Điều 212 Luật SHTT 2005 và các quy định của Bộ luật Hình sự 2015, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT cấu thành tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ:
- Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017): cố ý sao chép, phân phối tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại đáng kể.
- Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017): cố ý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ, liên quan đến hàng hóa giả mạo với quy mô thương mại, thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu.
Biện pháp hình sự chỉ được áp dụng khi hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội và thường cần có yêu cầu của chủ thể quyền để khởi tố.
IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện
Trong quá trình tổ chức và tham gia sự kiện, nhiều cá nhân và doanh nghiệp thường gặp phải những câu hỏi hoặc vướng mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Việc giải đáp rõ ràng những thắc mắc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, mà còn góp phần hạn chế rủi ro pháp lý và nâng cao hiệu quả khai thác giá trị sáng tạo trong sự kiện.
1. Khi nào thì quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện có thể bị xâm phạm?
Để xác định một hành vi có phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay không cần căn cứ theo những điều dưới đây :
Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Tại Điều 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì: Đối tượng bị xem xét là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không.
Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
Các yếu tố xâm phạm được quy định cụ thể tại Nghị định 105/2006/NĐ-CP như sau:
Điều 7. Yếu tố xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
Điều 8. Yếu tố xâm phạm quyền sở hữu đối với sáng chế
Điều 9. Yếu tố xâm phạm quyền đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Điều 10. Yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp
Điều 11. Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Điều 12. Yếu tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Điều 13. Yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại
2. Trong trường hợp xung đột quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện, quy trình giải quyết thường diễn ra như thế nào?
Khi xảy ra xung đột quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trong sự kiện, quy trình giải quyết thường bắt đầu từ việc xác định hành vi xâm phạm và thu thập chứng cứ, bao gồm hợp đồng, tài liệu đăng ký quyền, hình ảnh, video hoặc dữ liệu chứng minh việc sử dụng trái phép.
Sau đó, các bên thường ưu tiên thương lượng hoặc hòa giải nhằm tìm giải pháp như chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc ký kết thỏa thuận sử dụng quyền, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí.
Nếu thương lượng không đạt kết quả, bên bị xâm phạm có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Cục SHTT hoặc quản lý thị trường xử lý vi phạm hành chính.
Trong trường hợp cần yêu cầu bồi thường hoặc áp dụng biện pháp dân sự, vụ việc sẽ được khởi kiện ra Tòa án; đồng thời, khi sự kiện đang hoặc sắp diễn ra, Tòa án hoặc cơ quan chức năng có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn thiệt hại, chẳng hạn như tạm dừng phát sóng hoặc thu giữ hàng hóa vi phạm.
Đối với hành vi nghiêm trọng có yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Các tổ chức nào có thể hỗ trợ trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong các sự kiện lớn?
Trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại các sự kiện lớn, có nhiều tổ chức trong nước và quốc tế có thể hỗ trợ hiệu quả. Ở Việt Nam, các cơ quan nhà nước như Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Cục Bản quyền tác giả, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Quản lý thị trường, cùng hệ thống Tòa án và cơ quan điều tra đóng vai trò quan trọng trong việc đăng ký, cấp văn bằng bảo hộ, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp.
Trên phạm vi quốc tế, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và các hiệp hội ngành nghề như Hiệp hội quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (AIPPI) cung cấp nguồn lực, thông tin, đào tạo và hỗ trợ chính sách.
Bên cạnh đó, các hiệp hội nghề nghiệp trong nước như Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (VIETRRO), Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) hay Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam cũng tham gia bảo vệ, khai thác và quản lý quyền cho hội viên.
Ngoài ra, các công ty luật và tổ chức đại diện SHTT đóng vai trò then chốt trong việc tư vấn, đại diện đăng ký, xử lý tranh chấp và thực thi quyền cho doanh nghiệp, nghệ sĩ và đơn vị tổ chức sự kiện.
4. Doanh nghiệp có thể yêu cầu các mức bồi thường thiệt hại nào khi phát hiện quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện bị vi phạm?
Căn cứ theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và khoản 11 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019, mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền SHTT được xác định dựa trên các căn cứ cụ thể sau:
Trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại vật chất, họ có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các cách:
- Tổng giá trị thiệt hại vật chất (tính bằng tiền) cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm, nếu phần lợi nhuận này chưa được tính vào thiệt hại của nguyên đơn;
- Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT, giả định bị đơn được nguyên đơn cấp quyền sử dụng trong phạm vi tương ứng với hành vi vi phạm;
- Các phương pháp tính thiệt hại khác do chủ thể quyền SHTT đưa ra phù hợp với quy định pháp luật;
- Nếu không thể xác định theo các cách trên, Tòa án sẽ ấn định mức bồi thường căn cứ vào mức độ thiệt hại, nhưng tối đa không vượt quá 500 triệu đồng.
Đối với thiệt hại tinh thần, nếu nguyên đơn chứng minh được hành vi vi phạm gây tổn hại về danh dự, uy tín hoặc nhân phẩm, họ có thể yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tùy mức độ thiệt hại.
Ngoài ra, chủ thể quyền SHTT còn có thể yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo đó, khi doanh nghiệp phát hiện quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện bị vi phạm có thể yêu cầu các mức bồi thường thiệt hại theo quy định nêu trên.
5. Quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện có thể bị buộc phải chấm dứt trong những trường hợp nào?
Căn cứ quy định tại khoản 30 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 thì văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
- Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;
- Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế;
- Đơn đăng ký sáng chế đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen nhưng không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen có trong đơn đó.
(*) Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần hiệu lực nếu toàn bộ hoặc một phần văn bằng bảo hộ đó không đáp ứng quy định về quyền đăng ký, điều kiện bảo hộ, sửa đổi, bổ sung đơn, bộc lộ sáng chế, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong các trường hợp sau đây:
- Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được người có quyền đăng ký chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu;
- Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ;
- Việc sửa đổi, bổ sung đơn đăng ký sở hữu công nghiệp làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn;
- Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
- Sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu của đơn đăng ký sáng chế;
- Sáng chế không đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định.
Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện có thể bị buộc phải chấm dứt khi thuộc vào một trong những trường hợp nêu trên.
V. Có nên tìm luật sư tư vấn để được hỗ trợ hiệu quả trong tư vấn về quyền sở hữu trí tuệ trong sự kiện không?
Trong bối cảnh các sự kiện, đặc biệt là sự kiện lớn, thường liên quan đến nhiều yếu tố như hình ảnh, âm nhạc, thương hiệu, nội dung sáng tạo… nguy cơ phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là rất cao. Việc tìm đến luật sư tư vấn không chỉ giúp doanh nghiệp hoặc cá nhân hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan mà còn được hỗ trợ xây dựng chiến lược phòng ngừa rủi ro, xử lý kịp thời khi có tranh chấp. Luật sư sẽ tư vấn, soạn thảo hợp đồng, rà soát điều khoản bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đại diện đàm phán hoặc tham gia giải quyết tại Tòa án, trọng tài. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tối đa và hạn chế thiệt hại, việc liên hệ với Công ty Luật TNHH Ngọc Phú là lựa chọn đáng cân nhắc cho mọi cá nhân, tổ chức tham gia tổ chức hoặc thực hiện các sự kiện.