I. Thực trạng hiện nay của quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Hiện nay, quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam đã được pháp luật quy định khá rõ ràng thông qua Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng vi phạm quyền tác giả vẫn diễn ra phổ biến dưới nhiều hình thức như: sử dụng tác phẩm biểu diễn mà không xin phép, sao chép hoặc phát tán trái phép các buổi biểu diễn, xuyên tạc hoặc cắt ghép nội dung gây ảnh hưởng đến uy tín của nghệ sĩ. 

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận công chúng và đơn vị khai thác, cùng với cơ chế giám sát, xử lý vi phạm chưa thật sự hiệu quả. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số và mạng xã hội cũng khiến việc kiểm soát hành vi xâm phạm trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, tổ chức đại diện quyền tác giả và chính các nghệ sĩ. 

II. Quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn là gì? 

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Theo đó, có thể hiểu rằng: Quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn là quyền của cá nhân hoặc tổ chức đối với các tác phẩm được thể hiện dưới dạng biểu diễn nghệ thuật như âm nhạc, kịch, múa, xiếc, điện ảnh, thời trang trình diễn… Quyền này nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo, công sức và phong cách thể hiện độc đáo của nghệ sĩ hoặc đơn vị thực hiện.

1. Tầm quan trọng của quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn 

Quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ giá trị sáng tạo và quyền lợi hợp pháp của tác giả, nghệ sĩ cũng như các tổ chức liên quan. Việc bảo hộ quyền tác giả giúp đảm bảo rằng công sức, thời gian và tâm huyết mà người nghệ sĩ bỏ ra được ghi nhận và đền đáp xứng đáng. Đây cũng là cơ sở pháp lý để ngăn chặn các hành vi xâm phạm như sao chép, sử dụng trái phép hay xuyên tạc tác phẩm, từ đó duy trì môi trường sáng tạo lành mạnh và minh bạch.

Bên cạnh việc bảo vệ lợi ích kinh tế, quyền tác giả còn góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu cá nhân và khuyến khích nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo. Đối với ngành nghệ thuật nói chung, việc thực thi quyền tác giả hiệu quả sẽ tạo động lực phát triển bền vững, thu hút đầu tư, thúc đẩy giao lưu văn hóa, đồng thời giúp nâng cao vị thế của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam trên trường quốc tế.

2. Những điều cần lưu ý về quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Để bảo vệ hiệu quả thành quả sáng tạo và tránh rủi ro pháp lý, các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn cần nắm rõ những quy định và nguyên tắc cơ bản liên quan đến quyền tác giả. Việc hiểu đúng và đầy đủ các điểm quan trọng này không chỉ giúp nghệ sĩ bảo vệ quyền lợi của mình mà còn góp phần xây dựng môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp, tôn trọng trí tuệ và sáng tạo. 

Đối tượng quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Khoản 1 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) quy định: Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

 

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Cụ thể tại Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định như sau:

(1) Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) được bảo hộ vô thời hạn.

(2) Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) có thời hạn bảo hộ như sau:

(i) Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.

(ii) Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình.

(iii) Đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại (iv).

(iv) Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại (i) có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;

(v) Thời hạn bảo hộ quy định tại (i), (ii) chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.

III. Quy định pháp luật liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn 

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nghệ sĩ cũng như các đơn vị tổ chức biểu diễn, pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều quy định cụ thể về quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Đây là cơ sở quan trọng giúp xác định phạm vi bảo hộ, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như cơ chế xử lý khi xảy ra tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm.

1. Quy định cần lưu ý liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn 

Trong quá trình sáng tạo và biểu diễn, việc nắm rõ các quy định pháp luật liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn là yếu tố then chốt giúp nghệ sĩ và đơn vị tổ chức tránh vi phạm, đồng thời bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của mình. Dưới đây là những quy định quan trọng mà các cá nhân, tổ chức cần đặc biệt lưu ý.

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), cụ thể như sau:

(1) Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

- Tác phẩm báo chí;

- Tác phẩm âm nhạc;

- Tác phẩm sân khấu;

- Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

- Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

- Tác phẩm nhiếp ảnh;

- Tác phẩm kiến trúc;

- Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;

- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

(2) Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại mục (1) nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Các tác phẩm được bảo hộ quy định tại mục (1), (2) phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) quy định các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả gồm:

- Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.

- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.

- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

2. Những vi phạm liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn 

Theo quy định tại Điều 28 Luật sở Hữu trí tuệ năm 2005 quy định về những hành vi xâm phạm quyền tác giả, gồm:

- Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

- Mạo danh tác giả.

 

- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.

- Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

- Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

- Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

- Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

- Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật.

- Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

- Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

- Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

- Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

- Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

- Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

- Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.

- Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp sử dụng tác phẩm trên đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao nếu thuộc các trường hợp tại khoản 1 Điều 25 Luật sở Hữu trí tuệ năm 2005.

IV. Giải đáp các thắc mắc về quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn 

Trong quá trình hoạt động nghệ thuật, không ít nghệ sĩ và đơn vị tổ chức gặp phải những băn khoăn liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, từ phạm vi bảo hộ, thủ tục đăng ký cho đến cách xử lý khi bị xâm phạm. Phần dưới đây sẽ tổng hợp và giải đáp những thắc mắc thường gặp, giúp bạn hiểu rõ hơn và áp dụng đúng các quy định pháp luật hiện hành.

1. Luật pháp quy định về việc bảo vệ quyền tác giả trong nghệ thuật biểu diễn ở các quốc gia khác nhau có khác biệt không? 

Hiện nay, việc bảo hộ quốc tế quyền tác giả có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức, bao gồm:

- Tham gia các điều ước quốc tế đa phương như: Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPs 1994, Hiệp ước WPPT 1994…

- Ký kết các điều ước song phương tiêu biểu như: Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ 1997, Hiệp định Việt Nam – Thụy Sĩ 1999…

- Bảo hộ theo nguyên tắc có đi có lại, theo đó các bên cam kết dành sự bảo hộ cho tác phẩm của công dân đối tác như đối với tác phẩm của công dân mình.

Ví dụ: Bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne
Công ước Berne quy định một số nguyên tắc cơ bản:

1. Nguyên tắc đối xử quốc gia: Mỗi quốc gia thành viên bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia thành viên khác tương tự như với công dân của mình (khoản 1 Điều 5).

2. Nguyên tắc bảo hộ tự động: Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới dạng vật chất, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký (khoản 2 Điều 5).

3. Nguyên tắc bảo hộ độc lập: Việc thụ hưởng và thực thi quyền tác giả độc lập với chế độ bảo hộ ở quốc gia xuất xứ tác phẩm (khoản 2 Điều 5).

4. Nguyên tắc bảo hộ tối thiểu: Các quốc gia thành viên phải đảm bảo ít nhất tiêu chuẩn bảo hộ theo Công ước.

Đối tượng được bảo hộ bao gồm: tác phẩm gốc trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học; tác phẩm phái sinh; tuyển tập tác phẩm văn học và nghệ thuật.

Điều kiện bảo hộ: Tác phẩm cần đáp ứng tiêu chí về quốc tịch của tác giả và nơi công bố lần đầu.

Quyền được bảo hộ gồm: quyền kinh tế, quyền nhân thân (tinh thần) và quyền tiếp theo (droit de suite).

Thời hạn bảo hộ: Bắt đầu từ khi tác phẩm được sáng tạo và kéo dài đến một khoảng thời gian sau khi tác giả qua đời. Công ước Berne quy định tối thiểu suốt đời tác giả cộng 50 năm, các quốc gia có thể áp dụng thời hạn dài hơn.

Hiệu lực hồi tố: Công ước cũng bảo hộ các tác phẩm tồn tại trước khi có hiệu lực tại quốc gia thành viên, nếu vẫn còn trong thời hạn bảo hộ theo pháp luật trước đó.

2. Có những loại hình tác phẩm nào được bảo vệ quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn? 

Điều 6 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm:

(1) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005:

+ Tác phẩm văn học, khoa học và tác phẩm khác thể hiện dưới dạng chữ viết bao gồm: Tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn; bút ký, ký sự, tùy bút, hồi ký; thơ, trường ca; kịch bản; công trình nghiên cứu văn hoá, văn học, nghệ thuật, khoa học và các bài viết khác;

+ Sách giáo khoa là tác phẩm được xuất bản, cụ thể hóa các yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông; được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, cho phép sử dụng làm tài liệu dạy học chính thức trong các cơ sở giáo dục phổ thông;

+ Giáo trình là tài liệu giảng dạy, học tập, nghiên cứu chính có nội dung phù hợp với chương trình đào tạo, bồi dưỡng được người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp duyệt, lựa chọn hoặc được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật;

+ Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác là tác phẩm thể hiện bằng chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà cá nhân, tổ chức tiếp cận có thể hiểu và sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau.

(2) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định.

(3) Tác phẩm báo chí quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác.

(4) Tác phẩm âm nhạc quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn.

(5) Tác phẩm sân khấu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa, múa rối, múa đương đại, ba lê, kịch nói, opera, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.

(6) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm có nội dung, được biểu hiện bằng hình ảnh động liên tiếp hoặc hình ảnh do các thiết bị kỹ thuật, công nghệ tạo ra; có hoặc không có âm thanh và các hiệu ứng khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó.

Tác phẩm điện ảnh không bao gồm bản ghi hình nhằm mục đích phổ biến tin tức trên dịch vụ phát thanh, truyền hình, không gian mạng; chương trình biểu diễn nghệ thuật, trò chơi điện tử; bản ghi hình về hoạt động của một hoặc nhiều người, mô tả các sự kiện, tình huống hoặc chương trình thực tế.

(7) Tác phẩm mỹ thuật quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục bao gồm:

+ Hội họa: Tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu, màu nước, giấy dó và các chất liệu khác;

+ Đồ họa: Tranh khắc gỗ, khắc kim loại, khắc cao su, khắc thạch cao, in độc bản, in đá, in lưới, tranh cổ động, thiết kế đồ họa và các chất liệu khác;

+ Điêu khắc: Tượng, tượng đài, phù điêu, đài, khối biểu tượng;

+ Nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện nghệ thuật đương đại khác.

Tác phẩm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức nghệ thuật đương đại khác tồn tại dưới dạng độc bản. Tác phẩm đồ họa có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả.

(8) Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp bao gồm:

Thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, bộ nhận diện và bao bì sản phẩm; hình thức thể hiện của nhân vật); thiết kế thời trang; thiết kế mang tính mỹ thuật gắn liền với tạo dáng sản phẩm; thiết kế nội thất, trang trí nội thất, ngoại thất mang tính mỹ thuật.

Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng được thể hiện dưới dạng tạo dáng sản phẩm mang tính mỹ thuật, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực tương ứng và không bao gồm tạo dáng bên ngoài của sản phẩm bắt buộc phải có để thực hiện chức năng của sản phẩm.

(9) Tác phẩm nhiếp ảnh quy định tại điểm h khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác.

Tác phẩm nhiếp ảnh có thể có chú thích hoặc không có chú thích.

(10) Tác phẩm kiến trúc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc, bao gồm:

+ Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh;

+ Công trình kiến trúc.

(11) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ quy định tại điểm k khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, các loại công trình khoa học và kiến trúc.

(12) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 14 và khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm:

+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là các loại hình nghệ thuật ngôn từ;

+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như chèo, tuồng, cải lương, múa rối, điệu hát, dân ca, làn điệu âm nhạc; điệu múa, dân vũ, vở diễn, trò chơi dân gian, lễ hội dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian khác.

3. Khi có khiếu nại về quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, quy trình xử lý diễn ra như thế nào? 

Điều 80 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định về nộp đơn và giải quyết đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

- Đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được nộp cho cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quy định tại Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sau đây gọi là cơ quan xử lý hành vi xâm phạm).

- Khi nhận được đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm, nếu thấy yêu cầu xử lý thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác thì cơ quan nhận đơn hướng dẫn để người nộp đơn thực hiện việc nộp đơn tại cơ quan có thẩm quyền hoặc chuyển đơn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn.

- Trong trường hợp đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan chưa đủ tài liệu, chứng cứ, hiện vật cần thiết, thì cơ quan xử lý hành vi xâm phạm yêu cầu người nộp đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ, hiện vật cần thiết và ấn định thời hạn hợp lý nhưng không quá 30 ngày để người yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm bổ sung tài liệu, chứng cứ, hiện vật cần thiết.

- Trong các trường hợp sau đây, cơ quan xử lý hành vi xâm phạm từ chối yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm, có nêu rõ lý do từ chối:

+ Hết thời hạn ấn định thời hạn hợp lý (nhưng không quá 30 ngày) mà người yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm không đáp ứng yêu cầu của cơ quan xử lý hành vi xâm phạm về việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, hiện vật cần thiết có liên quan;

+ Hết thời hiệu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định pháp luật;

+ Kết quả xác minh của cơ quan xử lý hành vi xâm phạm hoặc cơ quan công an cho thấy không có hành vi xâm phạm như mô tả trong đơn yêu cầu;

+ Có văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc không đủ căn cứ xử lý hành vi xâm phạm.

- Trong trường hợp có tranh chấp, khiếu nại về chủ thể quyền, đối tượng được bảo hộ, phạm vi bảo hộ, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, cơ quan đã nhận đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan hướng dẫn người nộp đơn tiến hành thủ tục yêu cầu giải quyết tranh chấp, khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày phát sinh tranh chấp.

4. Quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn có thể bị thu hồi trong trường hợp nào? 

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 42 Nghị định 17/2023/NĐ-CP về hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan. Và quy định tại khoản 2 Điều 55 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, khoản 3 Điều 55 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 16 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022; Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan hủy bỏ hiệu lực trong các trường hợp sau:

- Người được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan;

- Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã đăng ký không thuộc đối tượng bảo hộ;

- Phát hiện việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trái với quy định.

5. Trong trường hợp có hành vi xâm phạm, quyền lợi của nghệ sĩ biểu diễn sẽ được bảo vệ như thế nào? 

Khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nghệ sĩ biểu diễn có thể được bảo vệ quyền lợi thông qua nhiều cơ chế pháp lý. Căn cứ theo quy định tại Điều 198 về “Quyền tự bảo vệ”, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, quyền lợi của nghệ sĩ được bảo vệ thông qua các cách thức sau: 

Trước hết, nghệ sĩ hoặc tổ chức đại diện quyền tác giả có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm chấm dứt ngay hành vi xâm phạm, đồng thời gỡ bỏ hoặc tiêu hủy các bản sao trái phép của buổi biểu diễn. 

Nếu hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín hoặc hình ảnh, nghệ sĩ có quyền yêu cầu xin lỗi và cải chính công khai. 

Ngoài ra, nghệ sĩ còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất (như thu nhập bị mất hoặc giảm sút) và tinh thần (tổn thất danh dự, uy tín). Tùy mức độ vi phạm, các biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự có thể được áp dụng, bao gồm xử phạt vi phạm, khởi kiện ra tòa hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Trong thực tiễn, nghệ sĩ cũng có thể ủy quyền cho các tổ chức đại diện quyền liên quan, như Hiệp hội quyền của nghệ sĩ biểu diễn Việt Nam (APPA), để giám sát, thu phí bản quyền và thực hiện các thủ tục bảo vệ quyền lợi một cách chuyên nghiệp và hiệu quả.

V. Vấn đề liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn có nên liên hệ luật sư không? Liên hệ như thế nào?

Các vấn đề liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn thường phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu về pháp luật sở hữu trí tuệ cũng như kinh nghiệm xử lý tranh chấp. Do đó, việc liên hệ luật sư là cần thiết để được tư vấn, hỗ trợ đăng ký bảo hộ, soạn thảo hợp đồng, thu thập chứng cứ và giải quyết khi xảy ra hành vi xâm phạm. Luật sư sẽ giúp nghệ sĩ hoặc đơn vị biểu diễn đánh giá chính xác tình huống, lựa chọn phương án bảo vệ quyền lợi tối ưu và đại diện làm việc với cơ quan chức năng khi cần thiết.

Để được hỗ trợ nhanh chóng và hiệu quả, quý khách có thể liên hệ CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ qua số điện thoại, email hoặc đến trực tiếp văn phòng để trao đổi chi tiết. Khi liên hệ, nên chuẩn bị đầy đủ thông tin và tài liệu liên quan như hợp đồng, bản ghi, hình ảnh, video hoặc giấy tờ đăng ký quyền tác giả để luật sư có cơ sở đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp.