Sa thải người đang điều trị bệnh là hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về sa thải người đang điều trị bệnh và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Tại sao việc cố tình sa thải người đang điều trị bệnh có thể khiến chủ doanh nghiệp đối mặt với trách nhiệm hình sự?
Việc cố tình sa thải người đang điều trị bệnh không chỉ vi phạm nghiêm trọng quy định về luật lao động mà còn có thể cấu thành tội phạm hình sự theo Điều 162 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) về Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật. Theo đó:
- Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: (Khoản này được sửa đổi bởi khoản 32 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017)
a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức;
b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;
c) Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm: (Khoản này được sửa đổi bởi khoản 32 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017)
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
c) Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác.
- Và theo điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 122 Bộ luật lao động 2019 có quy định không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động. Và không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
- Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

Như vậy, việc cố tình sa thải người đang điều trị bệnh là hành vi sa thải trái luật và có thể cấu thành tội phạm khiến chủ doanh nghiệp đối mặt với trách nhiệm hình sự.
II. Tìm hiểu về sa thải người đang điều trị bệnh
Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về sa thải người đang điều trị bệnh. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Khái niệm pháp lý về hành vi sa thải người đang điều trị bệnh được hiểu như thế nào cho đúng?
Căn cứ tại Điều 124 Bộ luật lao động 2019 thì có thể hiểu sa thải là hình thức kỷ luật nặng nhất được áp dụng đối với người lao động có hành vi vi phạm ở mức độ lỗi nặng, dẫn đến người sử dụng lao động thấy rằng không thể tiếp tục sử dụng người lao động và họ có quyền loại người lao động ra khỏi đơn vị bằng cách chấm dứt hợp đồng lao động.
Theo đó, hành vi sa thải người đang điều trị bệnh là việc người sử dụng lao động áp dụng hình thức kỷ luật sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động trái pháp luật khi họ đang trong thời gian nghỉ để điều trị bệnh được quy định trong danh mục bệnh cần điều trị dài ngày theo chỉ định của cơ sở y tế có thẩm quyền.
2. Thế nào là tình trạng "không có khả năng lao động" và nó khác gì với việc bị sa thải người đang điều trị bệnh?
- Hiện nay theo quy định của pháp luật thì chưa có khái niệm nào quy định về việc không có khả năng lao động. Nhưng có thể hiểu được không có khả năng lao động là tình trạng người lao động không còn đủ điều kiện về sức khỏe để tiếp tục tham gia quan hệ lao động theo quy định của pháp luật, thường được xác định qua giám định y khoa (thường suy giảm từ 81% trở lên), bệnh tật nặng (ung thư, AIDS), tàn tật vĩnh viễn hoặc người đã quá tuổi lao động mất sức lao động.
- Tình trạng "không có khả năng lao động" có khác biệt so với việc bị sa thải người đang điều trị bệnh như sau:
- Người lao động không có khả năng lao động: Đây là trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do sức khỏe của người lao động do ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền không còn đáp ứng được công việc theo điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2019. Theo đó, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
- Sa thải người đang điều trị bệnh: Đây là hành vi sa thải trái pháp luật tại điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 122 Bộ luật lao động 2019 vì theo quy định không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng hoặc không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Nhìn chung, tình trạng "không có khả năng lao động" có sự khác biệt với việc bị sa thải người đang điều trị bệnh theo phân tích trên.
3. Bản chất của việc điều trị ngoại trú có được tính vào thời gian không được sa thải người đang điều trị bệnh không?
Căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 25/2025/TT-BYT, thời gian nghỉ việc điều trị ngoại trú là thời gian người lao động không đủ sức khỏe để đi làm và được người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh chỉ định điều trị ngoại trú.
Theo điểm a khoản 4 Điều 122 Bộ luật lao động 2019 quy định không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động.
Vậy, việc điều trị ngoại trú được tính vào thời gian không được sa thải người đang điều trị bệnh.
4. Tầm quan trọng của việc hiểu rõ danh mục bệnh cần điều trị dài ngày để tránh lỗi sa thải người đang điều trị bệnh?
Việc hiểu rõ danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày được quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 25/2025/TT-BYT là cực kỳ quan trọng đối với doanh nghiệp và người lao động để tránh các sai lầm pháp lý nghiêm trọng, cụ thể là sa thải người lao động sai quy định. Cụ thể:
- Tránh kỷ luật lao động trái luật: Theo Điều 122 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động (bao gồm sa thải) đối với người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Hoặc người lao động nghỉ việc để điều trị bệnh thuộc danh mục này, có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền, được coi là có lý do chính đáng. Nếu doanh nghiệp sa thải vì lý do người lao động tự ý bỏ việc trong trường hợp này sẽ bị coi là sa thải trái luật.
- Phòng ngừa rủi ro pháp lý và chi phí bồi thường: Nếu sa thải sai quy định đối với người lao động đang điều trị bệnh dài ngày, doanh nghiệp phải đối mặt với các hậu quả theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019:
- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết.
- Trả tiền lương, đóng bảo hiểm cho những ngày người lao động không được làm việc.
- Trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và môi trường làm việc của công ty.
Tóm lại, hiểu rõ danh mục bệnh dài ngày giúp doanh nghiệp vừa tuân thủ pháp luật, tránh rủi ro kiện tụng, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội, giúp người lao động được hưởng đúng chế độ, quyền lợi của họ.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến sa thải người đang điều trị bệnh
Tìm hiểu các quy định về sa thải người đang điều trị bệnh là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về sa thải người đang điều trị bệnh theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Điều kiện để doanh nghiệp được quyền chấm dứt hợp đồng mà không phạm luật sa thải người đang điều trị bệnh?
- Theo khoản 4 Điều 125 Bộ luật lao động 2019 quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
- Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2019 quy định người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
Theo điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 có quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Theo đó, về nguyên tắc doanh nghiệp không được sa thải người lao động khi họ đang trong thời gian nghỉ để điều trị bệnh có giấy chỉ định của cơ sở y tế có thẩm quyền. Thay vào đó doanh nghiệp có quyền chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp nêu trên.
2. Trình tự thực hiện thông báo chấm dứt hợp đồng đối với trường hợp sa thải người đang điều trị bệnh quy định ra sao?
Theo Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý sa thải người lao động được thực hiện như sau:
- Xác nhận hành vi vi phạm của người lao động
- Phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật lao động ngay tại thời điểm xảy ra: Người sử dụng lao động tiến hành lập biên bản vi phạm và thông báo đến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên, người đại diện theo pháp luật của người lao động chưa đủ 15 tuổi.
- Phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật lao động sau thời điểm hành vi đã xảy ra: Người sử dụng lao động thực hiện thu thập chứng cứ chứng minh lỗi của người lao động.
- Tổ chức họp xử lý kỷ luật lao động: Việc tổ chức họp xử lý kỷ luật lao động sẽ do người sử dụng lao động thực hiện.
Trước khi họp xử lý kỷ luật: Thông báo trước ít nhất 05 ngày về nội dung, thời gian, địa điểm tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, họ tên người bị xử lý, hành vi vi phạm cho tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, người lao động, người đại diện theo pháp luật của người lao động chưa đủ 15 tuổi.
Tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động:
+ Cuộc họp diễn ra khi có mặt đầy đủ các thành phần hoặc một trong các thành phần bắt buộc tham gia không xác nhận tham dự cuộc họp hoặc vắng mặt.
+ Nội dung cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự. Nếu có người không ký vào biên bản thì nêu rõ họ tên, lý do không ký (nếu có) vào nội dung biên bản.
- Ban hành quyết định xử lý kỷ luật: Trong thời hiệu được quy định, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động.
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 69 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động là người có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động hoặc người được quy định cụ thể trong nội quy lao động.
- Thông báo công khai quyết định xử lý kỷ luật: Quyết định xử lý kỷ luật phải được gửi đến người lao động, người đại diện theo pháp luật của người lao động chưa đủ 15 tuổi và tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Do đó, trình tự thực hiện thông báo chấm dứt hợp đồng đối với trường hợp sa thải người đang điều trị bệnh quy định như trên.
3. Hình thức xử phạt hành chính đối với người sử dụng lao động có hành vi sa thải người đang điều trị bệnh trái pháp luật?
Căn cứ theo điểm đ khoản 2 Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử lý kỷ luật sa thải không đúng trình tự, thủ tục, thời hiệu theo quy định của pháp luật bị phạt tiền từ 05-10 triệu đồng.
Ngoài ra còn buộc nhận người lao động trở lại làm việc và trả đủ tiền lương cho người lao động tương ứng với những ngày nghỉ việc đối với hành vi vi phạm.
- Căn cứ theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử lý sa thải đối với người lao động đang trong thời gian: Nghỉ ốm đau; nghỉ điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động; đang bị tạm giữ; tạm giam; đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm thì bị phạt từ 20-45 triệu đồng.
Ngoài ra, còn buộc xin lỗi công khai đối với người lao động và trả toàn bộ chi phí điều trị, tiền lương cho người lao động trong thời gian điều trị nếu việc xâm phạm gây tổn thương về thân thể người lao động đến mức phải điều trị tại các cơ sở y tế.
- Đồng thời, căn cứ theo khoản 3 Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử lý kỷ luật đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động bị phạt tiền từ 20-45 triệu đồng.
Ngoài ra, còn buộc nhận người lao động trở lại làm việc và trả đủ tiền lương cho người lao động tương ứng với những ngày nghỉ việc.
Tóm lại, hình thức xử phạt hành chính đối với người sử dụng lao động có hành vi sa thải người đang điều trị bệnh trái pháp luật được thực hiện như trên.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến sa thải người đang điều trị bệnh
Để hiểu rõ hơn các quy định về sa thải người đang điều trị bệnh, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Khi nào hành vi sa thải người đang điều trị bệnh bị khép vào tội "Buộc người lao động thôi việc trái pháp luật" theo Bộ luật Hình sự?
Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật hiện nay được quy định tại Điều 162 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025). Trong đó:
Đối tượng của tội phạm là: Người lao động.
- Mặt khách quan:
Theo Điều 162 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017, 2025), hành vi khách quan của tội này được thể hiện ở người phạm tội thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Sa thải trái pháp luật đối với người lao động: Là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc tuyển dụng và cho thôi việc đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý thải người lao động mà không có lý do chính đáng, trái với hợp đồng lao động.
- Cưỡng ép, đe dọa buộc người lao động phải thôi việc: Là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc tuyển dụng và cho thôi việc đối với công chức, viên chức làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý buộc công chức, viên chức, người lao động dưới quyền mình phải thôi việc bằng các thủ đoạn cưỡng ép, đe dọa tác động đến ý chí của những người này để buộc họ phải thôi việc trái với ý muốn của người đó mà không có lý do chính đáng hoặc không thông qua hội đồng xét kỷ luật của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật hiện hành.
Các hành vi nêu trên chỉ cấu thành Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật khi các hành vi này gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng ở đây có thể là:
- Người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn
- Làm người bị thôi việc, người bị sa thải rối loạn tâm thần, tổn hại sức khỏe…
Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Tội phạm này có cấu thành vật chất. Do đó, Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật hoàn thành khi hậu quả nghiêm trọng xảy ra.
- Mặt chủ quan:
Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi buộc thôi việc người lao động, công chức, viên chức hoặc sa thải người lao động là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội này là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Đó là động cơ vụ lợi như vì lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hoặc động cơ cá nhân như do thù tức.
Có thể thấy, hành vi sa thải người đang điều trị bệnh bị khép vào tội "Buộc người lao động thôi việc trái pháp luật" theo Bộ luật Hình sự khi có các dấu hiệu trên.
2. Mức bồi thường thiệt hại tối thiểu mà doanh nghiệp phải trả cho hành vi sa thải người đang điều trị bệnh là bao nhiêu?
Tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019 có quy định về việc bồi thường khi sa thải trái luật như sau:
Trường hợp 1: Người sử dụng lao động nhận lại người lao động vào làm việc
Lúc này, người lao động bị sa thải trái luật sẽ được bồi thường thiệt hại như sau:
- Tiền lương, đóng các loại bảo hiểm bắt buộc trong những ngày người lao động không được làm việc.
- Trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước (nếu vi phạm thời hạn báo trước).
- Trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Trường hợp 2: Người lao động không đồng ý quay trở lại làm việc
Lúc này, người lao động bị sa thải trái luật sẽ được bồi thường thiệt hại như sau:
- Các khoản tiền nêu tại Trường hợp 1.
- Tiền trợ cấp thôi việc.
Trường hợp 3: Người sử dụng lao động không nhận lại người lao động vào làm việc và được người lao động đồng ý
Lúc này, người lao động bị sa thải trái luật sẽ được bồi thường thiệt hại như sau:
- Các khoản tiền nêu tại Trường hợp 2.
- Khoản tiền bồi thường thêm để chấm dứt hợp đồng lao động do hai bên thỏa thuận, nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Theo quy định, mức bồi thường thiệt hại tối thiểu mà doanh nghiệp phải trả cho hành vi sa thải người đang điều trị bệnh được thực hiện theo từng trường hợp nêu trên.
3. Trách nhiệm của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xảy ra việc sa thải người đang điều trị bệnh?
Theo khoản 1 Điều 122 Bộ luật lao động 2019, việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:
a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên;
c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật;
d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành biên bản.
Căn cứ khoản 3 Điều 177 Bộ luật lao động 2019, nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là phải thỏa thuận bằng văn bản với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật sa thải đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định.
Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động thì người lao động, ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Nhìn chung, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có trách nhiệm liên quan khi xảy ra việc sa thải người đang điều trị bệnh.
4. Đang điều trị trầm cảm tại nhà, công ty có được quyền sa thải người đang điều trị bệnh không?
- Theo khoản 5 Điều 122 Bộ luật lao động 2019 quy định không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
- Và theo khoản 4 Điều 125 Bộ luật lao động 2019, hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Vậy, người lao động đang điều trị trầm cảm tại nhà, công ty không được quyền sa thải người đang điều trị bệnh nếu họ có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
5. Doanh nghiệp có được tuyển người mới thay thế vị trí khi chưa chính thức sa thải người đang điều trị bệnh?
- Theo khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2019, người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
- Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
- Căn cứ Điều 53 Bộ luật lao động 2019, người sử dụng lao động có thể sử dụng lao động thuê lại để thay thế người lao động đang trong thời gian điều trị bệnh nghề nghiệp nhưng không được thay thế người lao động trong thời gian nghỉ ốm đau dài ngày.
Kết luận lại, doanh nghiệp không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở y tế có thẩm quyền hoặc tuyển người mới thay thế vị trí khi chưa chính thức sa thải người đang điều trị bệnh.
V. Bạn đang tìm công ty luật uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến sa thải người đang điều trị bệnh?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về sa thải người đang điều trị bệnh mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.