Sản xuất sữa giả là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về sản xuất sữa giả và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Thực trạng sản xuất sữa giả trong giai đoạn hiện nay
Thực trạng sản xuất sữa giả hiện nay đang diễn biến vô cùng phức tạp, tinh vi và ở quy mô lớn. Thay vì làm giả các thương hiệu lớn có sẵn một cách thô sơ, các đối tượng hiện nay tự lập ra các pháp nhân doanh nghiệp để tự sản xuất, tự công bố nhãn hiệu nhằm đánh lừa cơ quan quản lý và người tiêu dùng. Các loại sữa giả hiện nay không chỉ nhắm vào trẻ em mà tập trung mạnh vào các danh mục sản phẩm có giá trị cao, đánh vào tâm lý người mua.
II. Tìm hiểu về sản xuất sữa giả
Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về sản xuất sữa giả. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Thế nào là hành vi sản xuất sữa giả theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa hiện hành?
- Theo khoản 1, 2 Điều 3 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025 quy định như sau:
- Sản phẩm là kết quả đầu ra của quá trình chế tạo, sản xuất hoặc kết quả đầu ra không tồn tại dưới dạng vật chất được tạo ra từ các hoạt động dịch vụ.
- Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào lưu thông trên thị trường, phục vụ mục đích tiêu dùng, sử dụng hoặc kinh doanh.
- Căn cứ theo khoản 1 và điểm a, b khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định như sau:
“Sản xuất” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa.
“Hàng giả” gồm:
- Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký.
- Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.

Như vậy, có thể hiểu hành vi sản xuất sữa giả là hành vi vi phạm pháp luật, trong đó người sản xuất sữa giả thực hiện hành vi làm ra hoặc chế biến sản phẩm được gắn mác là “sữa” nhưng không phải là sữa thật (không đáp ứng các tiêu chuẩn về thành phần, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm) nhằm đánh lừa người tiêu dùng, thu lợi bất chính.
2. Sản xuất sữa giả có phải luôn là hành vi hình sự hay chỉ là vi phạm hành chính?
Căn cứ tại Điều 10 Nghị định 98/2020/NĐ-CP có quy định xử phạt hành chính về hành vi sản xuất hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng.
Đồng thời hành vi sản xuất sữa giả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm tại Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 43 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
Theo đó, sản xuất sữa giả không phải luôn là hành vi hình sự mà tùy theo mức độ nghiêm trọng và yếu tố cấu thành tội phạm mà người thực hiện hành vi có thể chỉ bị xử phạt hành chính khi chưa đến mức truy cứu hình sự.
3. Ý nghĩa của việc giám định kỹ thuật và kiểm nghiệm mẫu sản phẩm trong các vụ án sản xuất sữa giả là gì?
Việc giám định kỹ thuật và kiểm nghiệm mẫu sản phẩm trong các vụ án sản xuất sữa giả có ý nghĩa sau:
- Đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội: Sữa là sản phẩm thiết yếu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đặc biệt là trẻ em hoặc người bệnh. Giám định và kiểm nghiệm giúp đánh giá chính xác mức độ độc hại hoặc nguy hại của sản phẩm đối với sức khỏe người tiêu dùng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Làm căn cứ định khung hình phạt: Kết quả kiểm nghiệm các thành phần cho biết sản phẩm có phải là hàng giả hay không và tỷ lệ bao nhiêu, từ đó xác định tội danh chính xác. Và là yếu tố quyết định mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội để áp dụng hình phạt tương xứng.
- Là chứng cứ pháp lý buộc tội: Giám định kỹ thuật và kiểm nghiệm mẫu sản phẩm trong các vụ án sản xuất sữa giả và kết luận giám định chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền là một nguồn chứng cứ. Nếu không có kết luận này, cơ quan điều tra không đủ cơ sở pháp lý để khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Tóm lại, ý nghĩa của việc giám định kỹ thuật và kiểm nghiệm mẫu sản phẩm trong các vụ án sản xuất sữa giả như trên.
4. Trách nhiệm pháp lý của chủ cơ sở trong trường hợp sản xuất sữa giả là gì?
Trách nhiệm pháp lý của chủ cơ sở trong trường hợp sản xuất sữa giả được pháp luật quy định như sau:
- Bị xử phạt hành chính:
Căn cứ Điều 10 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, hành vi sản xuất hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng bị phạt tiền với mức phạt thấp nhất từ 5.000.000 đồng và cao nhất là 100.000.000 đồng tùy theo giá trị số lượng hàng giả được sản xuất. Đồng thời sẽ bị phạt gấp hai lần mức quy định tại trên (mức phạt đối với hàng giả là thực phẩm). Mức tiền phạt đối với hành vi này là từ 10 triệu đồng đến 200 triệu đồng tùy theo mức độ ảnh hưởng.
Ngoài ra, tại khoản 3, 4 Điều 10 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, chủ cơ sở trong trường hợp sản xuất sữa giả còn bị xử phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả gồm:
- Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 4 Điều này;
- Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc được sử dụng để sản xuất hàng giả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động sản xuất vi phạm từ 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi vi phạm là hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất hợp pháp từ 50.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều này (được sửa đổi bởi điểm a khoản 6 Điều 3 Nghị định 17/2022/NĐ-CP).
Biện pháp khắc phục hậu quả:
- Buộc tiêu hủy tang vật đối với hành vi vi phạm
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
- Bị truy cứu hình sự:
Chủ cơ sở trong trường hợp sản xuất sữa giả có thể bị truy cứu hình sự về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm tại Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 43 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017. Theo đó, tùy theo mức độ nghiêm trọng, hậu quả của hành vi buôn bán sữa giả mà bị xử lý hình sự theo các mức độ khác nhau. Mức hình phạt cao nhất đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm đối với:
- Pháp nhân thương mại: bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
- Cá nhân: tù chung thân.

Nhìn chung, trách nhiệm pháp lý của chủ cơ sở trong trường hợp sản xuất sữa giả được phân tích như trên.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến sản xuất sữa giả
Tìm hiểu các quy định về sản xuất sữa giả. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về sản xuất sữa giả theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Luật An toàn thực phẩm quy định thế nào về xử lý hành vi sản xuất sữa giả?
- Theo khoản 2, điểm i khoản 5 và khoản 7, 10 Điều 5 Luật an toàn thực phẩm 2010 (sửa đổi 2025) quy định những hành vi bị cấm gồm:
- Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng.
- Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả kiểm nghiệm thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
- Theo khoản 1 Điều 6 Luật an toàn thực phẩm 2010 (sửa đổi 2025) quy định tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.
- Tại điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 01 lần đến 02 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
Có thể thấy, Luật An toàn thực phẩm 2010 quy định như trên về xử lý hành vi sản xuất sữa giả.
2. Trình tự, thủ tục niêm phong, thu hồi và tiêu hủy tang vật đối với các cơ sở bị phát hiện sản xuất sữa giả diễn ra như thế nào?
- Trước đây tại Điều 82 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định về việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu. Tuy nhiên hiện nay quy định này đã được bãi bỏ bởi khoản 75 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020. Mặc khác, tại khoản 42 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 đã bổ sung cho Điều 81 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 như sau: “Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã có quyết định tịch thu được xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công”.
Do đó, hiện nay việc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sẽ được thực hiện theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sẽ là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân – tài sản công theo quy định tại khoản 1 Điều 3 và điểm a khoản 1 Điều 106 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017.
- Trình tự, thủ tục niêm phong, thu hồi và tiêu hủy tang vật đối với các cơ sở bị phát hiện sản xuất sữa giả được quy định tại Điều 32, Điều 33 Nghị định 186/2025/NĐ-CP như sau:
Thủ tục thu hồi, niêm phong tang vật theo khoản 1 Điều 81 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 được bổ sung bởi khoản 42 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, cụ thể:
- Người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản tịch thu tang vật vi phạm: Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến.
- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành niêm phong toàn bộ sữa giả, nguyên liệu, máy móc sản xuất. Việc niêm phong phải thực hiện trước mặt đại diện cơ sở sản xuất sữa giả, người vi phạm và người chứng kiến (hoặc đại diện chính quyền địa phương nếu vắng mặt người vi phạm).
- Lập biên bản: Dán tem niêm phong hoặc đóng gói vào thùng và ghi nhận chi tiết số lượng, tình trạng, chủng loại vào Biên bản niêm phong tang vật.

- Khi có tài sản công thuộc các trường hợp phải tiêu hủy, cơ quan có tài sản lập 01 bộ hồ sơ đề nghị tiêu hủy tài sản công gửi cơ quan quản lý cấp trên (nếu có cơ quan quản lý cấp trên) để xem xét, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Hồ sơ đề nghị tiêu hủy tài sản công gồm:
- Văn bản đề nghị xử lý của cơ quan có tài sản công theo Mẫu số 01/TSC-XLTS ban hành kèm theo Nghị định này: 01 bản chính.
- Văn bản đề nghị tiêu hủy tài sản công của cơ quan quản lý cấp trên (nếu có cơ quan quản lý cấp trên): 01 bản chính.
- Các hồ sơ khác có liên quan đến đề nghị tiêu hủy tài sản (nếu có): 01 bản sao.
- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định tiêu hủy tài sản công hoặc có văn bản hồi đáp trong trường hợp đề nghị tiêu hủy không phù hợp.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tiêu hủy của cơ quan, người có thẩm quyền, cơ quan được giao nhiệm vụ tiêu hủy tài sản công có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc tiêu hủy tài sản, cơ quan có tài sản tiêu hủy hạch toán giảm tài sản; báo cáo kê khai biến động tài sản công theo quy định.
Vậy, thủ tục niêm phong, thu hồi và tiêu hủy tang vật đối với các cơ sở bị phát hiện sản xuất sữa giả diễn ra như trên.
3. Trong vụ tố cáo sản xuất sữa giả, người tiêu dùng cần làm thủ tục gì để khiếu nại hoặc khởi kiện?
- Căn cứ theo khoản 7 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 có quy định quyền của người tiêu dùng khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Đồng thời, tại khoản 3 Điều 36 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 cũng có quy định người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp dịch vụ cung cấp không đúng nội dung đã đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Để bảo vệ quyền lợi và sức khỏe khi mua phải sữa giả, người tiêu dùng cần thực hiện ngay các bước dưới đây:
- Thu thập và bảo quản các tài liệu sau để làm căn cứ khởi kiện hoặc khiếu nại:
- Chứng cứ mua hàng: Hóa đơn bán lẻ, biên lai thanh toán, lịch sử giao dịch điện tử, tin nhắn đặt hàng, hoặc hình ảnh tại nơi mua sản phẩm.
- Hiện trạng sản phẩm: Vỏ hộp sữa, lon sữa, nhãn mác, phần sữa chưa sử dụng (giữ nguyên hiện trạng, không vứt bỏ).
- Chứng cứ thiệt hại sức khỏe (nếu có): Hồ sơ bệnh án, đơn thuốc, kết luận chẩn đoán của bác sĩ, biên lai thu tiền viện phí nếu người dùng bị ngộ độc hoặc gặp sự cố sức khỏe do uống phải sữa giả.
- Khiếu nại trực tiếp đến người bán: Phản ánh trực tiếp với cửa hàng, đại lý hoặc nhà sản xuất chính hãng để yêu cầu đổi trả hoặc hoàn tiền. Cung cấp chứng cứ để làm rõ trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại về vật chất và sức khỏe (nếu có) của người tiêu dùng.
- Tố cáo hoặc khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền khi khiếu nại hoặc phản ánh không được tiếp nhận hoặc giải quyết. Theo đó, người tiêu dùng gửi Đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ (hóa đơn, hồ sơ bệnh án, kết luận giám định hàng giả nếu có) đến Tòa án khu vực có thẩm quyền giải quyết để yêu cầu bên bán/sản xuất bồi thường thiệt hại về tài sản, chi phí khám chữa bệnh, tổn thất tinh thần và các thiệt hại thực tế khác.
Nhìn chung, trong vụ tố cáo sản xuất sữa giả, người tiêu dùng cần làm thủ tục trên để khiếu nại hoặc khởi kiện.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến sản xuất sữa giả
Để hiểu rõ hơn các quy định về sản xuất sữa giả, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Phân biệt giữa sản xuất sữa giả và việc dùng nguyên liệu thay thế hợp pháp như sữa bột thanh trùng?
- Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định “Hàng giả” gồm:
- Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
- Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
- Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.
- Theo khoản 1 Điều 28 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 được sửa đổi bởi khoản 17 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025 quy định Tổ chức, cá nhân sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm trong sản xuất như sau:
- Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm kiểm soát quá trình sản xuất, bảo đảm sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng và quy định khác của luật có liên quan;
- Công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định tại Điều 23 của Luật này; thực hiện ghi nhãn hàng hóa, nhãn điện tử hoặc hộ chiếu số của sản phẩm; thể hiện các thông tin về truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch cho sản phẩm theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc;
- Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất;
- Công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao.
Dựa vào căn cứ nêu trên, sự khác biệt giữa sản xuất sữa giả và việc dùng nguyên liệu thay thế hợp pháp có sự khác biệt nhất định như sau:
- Sản xuất sữa giả: là hành vi gian lận thương mại, cố tình lừa dối người tiêu dùng và vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Bản chất: Cố tình làm giả nhãn mác, thương hiệu nổi tiếng hoặc tự công bố sai lệch hoàn toàn về thành phần dinh dưỡng hoặc không minh bạch trên nhãn mác.
- Nguyên liệu: Sử dụng hóa chất công nghiệp, bột đá, chất tạo béo nhân tạo, hoặc sữa bột kém chất lượng, nhiễm khuẩn.
- Mục đích: Tối đa hóa lợi nhuận bằng cách cắt giảm chi phí nguyên liệu, không qua kiểm nghiệm an toàn.
- Nguy cơ: Gây ngộ độc cấp tính, suy thận, suy dinh dưỡng nặng hoặc tử vong (đặc biệt là trẻ em).
- Sử dụng nguyên liệu thay thế: Nguyên liệu thay thế đáp ứng tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng được cơ quan chức năng cho phép.
- Bản chất: Thay thế một phần hoặc toàn bộ sữa tươi bằng sữa bột tách béo, sữa bột thanh/tiệt trùng nhưng phải ghi rõ trên nhãn mác về thành phần nguyên liệu thay thế.
- Nguyên liệu: Sữa bột nguyên chất nhập khẩu đạt chuẩn, vitamin, khoáng chất được phép sử dụng trong thực phẩm.
- Mục đích: Đảm bảo nguồn cung ổn định khi thiếu hụt sữa tươi, giảm giá thành phù hợp với nhiều đối tượng người tiêu dùng.
- Nguy cơ: An toàn tuyệt đối cho sức khỏe, chỉ khác biệt một chút về hàm lượng vi chất tự nhiên so với sữa tươi 100%.
Vì vậy, sự khác biệt giữa sản xuất sữa giả và việc dùng nguyên liệu thay thế hợp pháp như sữa bột thanh trùng được phân tích như trên.
2. Thành phần hồ sơ giải trình của doanh nghiệp khi bị cáo buộc sản xuất sữa giả do vô ý bao gồm những tài liệu gì?
- Theo Điều 10 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025 quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất sữa giả do vô ý gồm:
- Tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường theo quy định tại Điều 28 của Luật này và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất (Khoản này được sửa đổi bởi điểm b khoản 4 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025).
- Tuân thủ các quy định, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Chứng minh kết quả sai và lỗi của tổ chức đánh giá sự phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Luật này.
- Khi doanh nghiệp bị cáo buộc sản xuất sữa giả nhưng thực chất do vô ý, thành phần hồ sơ giải trình của doanh nghiệp gồm:
Tài liệu chứng minh quy trình sản xuất và lỗi vô ý:
- Sơ đồ quy trình sản xuất thực tế: Quy trình kiểm soát chất lượng từ khâu nhập nguyên liệu đến thành phẩm.
- Biên bản kiểm tra/lỗi kỹ thuật: Hồ sơ ghi nhận lỗi máy móc, lỗi vận hành, hoặc sự cố kỹ thuật dẫn đến sản phẩm không đạt tiêu chuẩn (sai lệch bao bì, hàm lượng, nhãn mác...).
- Hợp đồng và hóa đơn nguyên liệu: Chứng từ chứng minh doanh nghiệp mua nguyên liệu sữa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng từ các nhà cung cấp uy tín, không cố tình dùng nguyên liệu giả/kém chất lượng.
Hồ sơ pháp lý và chứng nhận chất lượng:
- Hồ sơ công bố sản phẩm: Bản tự công bố sản phẩm hoặc Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm sữa từ cơ quan quản lý.
- Chứng nhận quản lý chất lượng: Bản sao các chứng chỉ tiêu chuẩn mà nhà máy đang áp dụng nhằm chứng minh doanh nghiệp có hệ thống quản lý sản xuất đạt chuẩn.
Ngoài ra, còn có các tài liệu liên quan khác:
- Quyết định thu hồi sản phẩm: Văn bản nội bộ và thông báo gửi các đại lý về việc dừng lưu thông và thu hồi khẩn cấp lô sữa lỗi ngay khi phát hiện.
- Biên bản kiểm kê, niêm phong: Tài liệu chứng minh số lượng sữa lỗi đã thu hồi về kho và đang được niêm phong chờ xử lý.
- Tài liệu làm việc với đối tác: Biên bản làm việc, thư xin lỗi hoặc thỏa thuận giải quyết đền bù với khách hàng/đại lý bị ảnh hưởng.
Có thể thấy, thành phần hồ sơ giải trình của doanh nghiệp khi bị cáo buộc sản xuất sữa giả do vô ý bao gồm những tài liệu trên.
3. Hành vi không thu hồi sản phẩm lỗi khi biết rõ chất lượng không đạt tiêu chuẩn, tiếp tục để lưu hành có bị đánh giá là cố ý sản xuất sữa giả? Và sẽ bị xử lý thế nào?
- Theo khoản 8, 9 Điều 10 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025 quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất như sau:
- Kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng (Khoản này được sửa đổi bởi điểm đ khoản 4 Điều 1 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025).
- Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu hủy hàng hóa và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu hủy hàng hóa theo quy định của pháp luật.
- Và tại điểm b khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định “Hàng giả” gồm hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.
Do đó, hành vi không thu hồi sản phẩm lỗi khi biết rõ chất lượng không đạt tiêu chuẩn, tiếp tục để lưu hành có bị xem là cố ý sản xuất sữa giả hay không thì phải dựa vào các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.
- Nếu kết quả giám định mẫu sữa cho thấy chất lượng bị suy giảm nghiêm trọng (dưới 70%) và có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì hành vi cố tình lưu hành ra thị trường mà không thu hồi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm theo Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a, điểm b khoản 43 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
Kết luận lại, hành vi không thu hồi sản phẩm lỗi khi biết rõ chất lượng không đạt tiêu chuẩn, tiếp tục để lưu hành sẽ bị xử lý như trên.
4. Điều kiện cấu thành tội danh sản xuất sữa giả để bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự là gì?
Hành vi sản xuất sữa giả bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm theo Điều 193 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a, điểm b khoản 43 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
Các yếu tố cấu thành tội phạm như sau:
- Khách thể: Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các quy định về sản xuất kinh doanh và đặc biệt là sức khỏe của người tiêu dùng.
- Mặt khách quan: Có hành vi sản xuất ra sữa giả (hàng hóa không có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, hoặc bị làm giả về nhãn hàng, bao bì so với sữa thật). Chỉ cần có hành vi sản xuất là cấu thành tội phạm, không bắt buộc phải bán được hàng hay gây hậu quả.
- Chủ thể: Chủ thể của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm có thể là cá nhân hoặc là pháp nhân thương mại.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý (người phạm tội nhận thức rõ sữa mình sản xuất ra là giả nhưng vẫn cố tình thực hiện vì mục đích trục lợi).
Theo đó, điều kiện cấu thành tội danh sản xuất sữa giả để bị truy cứu trách nhiệm hình sự được phân tích theo quy định trên.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc đối với doanh nghiệp vi phạm quy định về sản xuất sữa giả gồm những gì?
Theo khoản 4 Điều 10 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc đối với doanh nghiệp vi phạm quy định về sản xuất sữa giả gồm:
- Buộc tiêu hủy tang vật đối với hành vi vi phạm;
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Có thể thấy, doanh nghiệp vi phạm quy định về sản xuất sữa giả thì sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu như trên.
V. Doanh nghiệp của bạn đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng pháp lý và cần luật sư NPLaw tư vấn khẩn cấp về các cáo buộc liên quan đến sản xuất sữa giả?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về sản xuất sữa giả mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.