Lợi ích của bạn - Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi
0913449968 0913419996 legal@nplaw.vn

Bài viết phân tích các quy định pháp luật, chế tài xử lý và những rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý khi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ.

Sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ là hành vi tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý, có thể dẫn đến xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các quy định pháp luật hiện hành, trách nhiệm của các chủ thể liên quan và những giải pháp giúp doanh nghiệp phòng ngừa, kiểm soát hiệu quả các rủi ro phát sinh.

I. Giới thiệu các vấn đề liên quan đến sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ

Sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ là hành vi khá phổ biến khi một số cá nhân, doanh nghiệp sử dụng phần mềm đã bị bẻ khóa để giảm chi phí nhưng vẫn khai thác phục vụ hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử dụng phần mềm không có bản quyền không chỉ xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro về pháp lý, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu.

Trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp còn gặp vướng mắc trong việc xác định thế nào là sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, các dấu hiệu nhận biết hành vi vi phạm, chủ thể phải chịu trách nhiệm khi bị phát hiện và phạm vi quyền của chủ sở hữu phần mềm bị xâm phạm. Đồng thời, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại, truy cứu trách nhiệm hình sự, quy trình thu thập chứng cứ và quyền khởi kiện của bên bị thiệt hại cũng là những vấn đề cần được hiểu đúng để hạn chế rủi ro pháp lý.

II. Tìm hiểu về sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ

Việc hiểu đúng bản chất của hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý và các quy định áp dụng.

1. Sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ được hiểu như thế nào trong ngôn ngữ hàng ngày?

Trong ngôn ngữ hàng ngày, sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ được hiểu là việc cá nhân hoặc doanh nghiệp cài đặt và sử dụng các phần mềm đã bị bẻ khóa, can thiệp để vô hiệu hóa cơ chế bảo vệ bản quyền hoặc kích hoạt trái phép. Cũng như không mua giấy phép hợp pháp từ chủ sở hữu, nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Các phần mềm này thường được tải từ các nguồn không chính thức và cho phép sử dụng đầy đủ tính năng mà không phải trả phí bản quyền.

Trên thực tế, hành vi này có thể xuất hiện ở nhiều lĩnh vực như thiết kế đồ họa, kiến trúc, kỹ thuật, kế toán, chỉnh sửa hình ảnh, dựng phim, lập trình hoặc cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin. Mặc dù giúp tiết kiệm chi phí trong ngắn hạn, việc sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro như vi phạm quyền tác giả, bị xử phạt theo quy định của pháp luật, phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và làm gia tăng nguy cơ mất an toàn thông tin do phần mềm có thể chứa mã độc hoặc bị can thiệp trái phép.

2. Những dấu hiệu và đặc điểm nhận dạng của một hệ thống máy tính đang sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ là gì?

Một hệ thống máy tính đang sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ thường có một số dấu hiệu nhận biết như:

  • Phần mềm được kích hoạt bằng công cụ bẻ khóa (crack, keygen, patch) thay vì giấy phép hợp pháp;
  • Không có tài khoản bản quyền hoặc hợp đồng cấp phép từ nhà sản xuất;
  • Không thể xuất trình hóa đơn, chứng từ mua bản quyền hoặc thông tin về giấy phép sử dụng;
  • Phần mềm hiển thị trạng thái kích hoạt bất thường, vô hiệu hóa chức năng cập nhật hoặc yêu cầu chặn kết nối đến máy chủ xác thực bản quyền.
  • Hệ thống có thể xuất hiện các tệp tin, chương trình hoặc công cụ dùng để can thiệp vào cơ chế bảo vệ bản quyền của phần mềm.

Trong hoạt động kinh doanh, các dấu hiệu trên thường được kết hợp với việc doanh nghiệp sử dụng phần mềm để trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhằm xác định có hay không hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ. Tuy nhiên, để kết luận hành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, giám định và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, thay vì chỉ dựa trên một dấu hiệu riêng lẻ.

3. Đối tượng nào phải chịu trách nhiệm chính khi công ty bị phát hiện sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ?

Khi công ty bị phát hiện sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, chủ thể chịu trách nhiệm chính trước hết là doanh nghiệp nếu việc sử dụng phần mềm được thực hiện phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thuộc phạm vi quản lý của doanh nghiệp. Đồng thời, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và kết quả xác minh, cá nhân có liên quan như người đại diện theo pháp luật, người quản lý, người phụ trách công nghệ thông tin hoặc người trực tiếp chỉ đạo, cài đặt, sử dụng phần mềm crack cũng có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu có hành vi vi phạm.

Trường hợp hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Đồng thời, theo khoản 2 Điều này quy định việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân có hành vi chỉ đạo, tổ chức, thực hiện hoặc giúp sức cho hành vi phạm tội.

Khi công ty sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp là chủ thể chịu trách nhiệm chính đối với hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh; đồng thời, các cá nhân có lỗi và có liên quan cũng có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật tùy từng trường hợp cụ thể.

4. Hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ vi phạm trực tiếp vào những quyền nào của chủ sở hữu quyền tác giả?

Hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ xâm phạm trực tiếp quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Cụ thể: 

  • Theo khoản 2 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT 2005) được sửa đổi bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền tài sản như sao chép tác phẩm, phân phối, truyền đạt đến công chúng và các hình thức khai thác thương mại khác. Việc cài đặt, sao chép hoặc sử dụng phần mềm đã bị bẻ khóa mà không được sự cho phép của chủ sở hữu là hành vi khai thác phần mềm trái phép, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khai thác thương mại và lợi ích kinh tế của chủ sở hữu.
  • Hành vi bẻ khóa hoặc vô hiệu hóa cơ chế bảo vệ bản quyền của phần mềm còn có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo khoản 4 và khoản 5 Điều 28 Luật SHTT 2005, được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022. Việc cố ý loại bỏ, phá vỡ hoặc làm mất hiệu lực các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả không chỉ tạo điều kiện cho việc sử dụng phần mềm trái phép mà còn xâm phạm trực tiếp quyền của chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính.

Thông qua các hành vi như sao chép tác phẩm không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả.

Sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ chủ yếu xâm phạm quyền tài sản và quyền khai thác thương mại của chủ sở hữu quyền tác giả.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ

Nhằm xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, cần nắm rõ các quy định pháp luật điều chỉnh và cơ chế bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

1. Luật nào và quy định nào xử lý hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ ở Việt Nam?

Tùy tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ sẽ được điều chỉnh bởi các văn bản khác nhau:

  • Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025: Điều 20, 22 quy định về quyền tài sản và quyền của tác giả đối với chương trình máy tính. Chương trình máy tính là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Chủ sở hữu có quyền độc quyền sao chép, phân phối, cho thuê và cho phép người khác sử dụng phần mềm. Song đó, khoản 6 Điều 28 Luật này cũng có quy định hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
  • Xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 341/2025/NĐ-CP: Đối với hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm cá nhân vi phạm có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Còn đối với tổ chức mức phạt sẽ gấp đôi so với mức phạt với cá nhân. Ngoài bị phạt tiền còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như Buộc tiêu hủy hoặc buộc gỡ bỏ hoặc xóa bản gốc, bản sao vi phạm…
  • Xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025: Theo Điều 225 được sửa đổi bởi điểm a khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 về tội xâm phạm quyền tác giả quyền liên quan, cá nhân phạm tội có thể bị phạt tiền lên đến 200.000.000 đồng, mức phạt tù cao nhất lên đến 5 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội mức phạt tiền có thể lên đến 3.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ không chỉ vi phạm quy định của Luật Sở hữu trí tuệ mà còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm. Việc sử dụng phần mềm có bản quyền là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm tuân thủ pháp luật và hạn chế các rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh.

2. Quy trình thu thập chứng cứ để chứng minh sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ thường thực hiện ra sao?

Tùy từng vụ việc được xử lý theo thủ tục hành chính, dân sự hoặc hình sự mà trình tự thu thập chứng cứ có thể khác nhau, nhưng thông thường sẽ bao gồm các bước sau:

Bước 1. Tiếp nhận thông tin về hành vi vi phạm

Việc phát hiện hành vi sử dụng phần mềm crack có thể xuất phát từ đơn yêu cầu của chủ sở hữu quyền tác giả, phản ánh của cá nhân, tổ chức, kết quả thanh tra, kiểm tra hoặc thông qua hoạt động xác minh của cơ quan có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận thông tin, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét dấu hiệu vi phạm để quyết định kiểm tra, thanh tra hoặc tiến hành xác minh theo quy định của pháp luật.

Bước 2. Kiểm tra, xác minh tại cơ sở kinh doanh

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra hệ thống máy tính, máy chủ, thiết bị lưu trữ và phần mềm đang được sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Việc kiểm tra nhằm xác định tên phần mềm, phiên bản, tình trạng kích hoạt, giấy phép sử dụng, số lượng bản cài đặt và dấu hiệu sử dụng công cụ bẻ khóa (crack), key giả, phần mềm kích hoạt trái phép hoặc các biện pháp vượt qua cơ chế bảo vệ bản quyền của nhà sản xuất.

Bước 3. Thu thập và bảo quản chứng cứ điện tử

Theo điểm c khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung 2025), dữ liệu điện tử là một trong những nguồn chứng cứ hợp pháp. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số hoặc các nguồn điện tử khác có giá trị chứng minh nếu được thu thập theo đúng trình tự luật định. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền có thể thu thập các tài liệu như nhật ký hệ thống (log), thông tin giấy phép phần mềm, dữ liệu ổ cứng, email, hóa đơn mua phần mềm, thông tin tài khoản quản trị, hình ảnh, video, bản sao dữ liệu hoặc các tệp tin liên quan để phục vụ việc xác minh hành vi vi phạm.

Bước 4. Lập biên bản và trưng cầu giám định khi cần thiết

Trong quá trình kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền lập biên bản ghi nhận hiện trạng, niêm phong thiết bị hoặc dữ liệu nếu cần thiết. Trường hợp phải xác định phần mềm có phải là bản crack, bị can thiệp trái phép hoặc sử dụng giấy phép không hợp lệ, cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan xử phạt có thể trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp để làm rõ nguồn gốc, tình trạng bản quyền và giá trị chứng minh của chứng cứ.

Bước 5. Đánh giá chứng cứ và xử lý vụ việc

Sau khi thu thập đầy đủ tài liệu, cơ quan có thẩm quyền sẽ đánh giá tính hợp pháp, tính khách quan và giá trị chứng minh của chứng cứ để xác định có hay không hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính.

Như vậy, việc thu thập chứng cứ đối với hành vi sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ không chỉ dừng ở việc kiểm tra máy tính có cài đặt phần mềm không bản quyền mà còn phải bảo đảm chứng cứ điện tử được thu thập, bảo quản và đánh giá đúng trình tự pháp luật.

3. Khách hàng bị thiệt hại do nhà cung cấp sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ có thể khởi kiện đòi bồi thường thế nào?

Khách hàng bị thiệt hại do nhà cung cấp sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được hành vi vi phạm của nhà cung cấp đã gây ra thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại phát sinh. Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác. Mức bồi thường và thiệt hại về tài sản được xác định theo Điều 585 và 589 Bộ luật này bao gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục, khách hàng có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTDS 2015 sửa đổi bổ sung 2025). Khi khởi kiện, nguyên đơn phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình theo Điều 91 BLTTDS 2015 sửa đổi bổ sung 2025, như hợp đồng dịch vụ, hóa đơn, chứng từ thanh toán, kết luận của cơ quan có thẩm quyền về việc sử dụng phần mềm crack và các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế.

Trên cơ sở chứng cứ do các bên cung cấp, Tòa án sẽ xem xét trách nhiệm bồi thường của nhà cung cấp theo quy định của pháp luật.

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ

Dưới đây là một số thắc mắc thường gặp liên quan đến việc sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ và các quy định pháp lý mà doanh nghiệp cần lưu ý để phòng ngừa rủi ro.

1. Vai trò của hợp đồng và điều khoản bảo đảm khi phát hiện đối tác sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ là gì?

Khi phát hiện đối tác sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, hợp đồng và các điều khoản bảo đảm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và phân bổ trách nhiệm giữa các bên. Căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự 2015:

  • Điều 385 quy định, hợp đồng là sự thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên. Vì vậy, doanh nghiệp nên quy định rõ trong hợp đồng nghĩa vụ của đối tác phải sử dụng phần mềm hợp pháp, tuân thủ quy định về quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời cam kết chịu trách nhiệm nếu việc sử dụng phần mềm crack gây thiệt hại hoặc phát sinh tranh chấp với bên thứ ba.
  • Theo như Điều 13 và Điều 360  bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại phải bồi thường nếu làm phát sinh tổn thất cho bên còn lại, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm theo luật hoặc theo thỏa thuận. Doanh nghiệp nên bổ sung các điều khoản về cam kết tuân thủ pháp luật, bồi thường thiệt hại, quyền kiểm tra, quyền chấm dứt hợp đồng và miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp đối tác vi phạm quy định về bản quyền phần mềm.

Những điều khoản này không chỉ tạo cơ sở pháp lý để yêu cầu bồi thường hoặc chấm dứt hợp đồng mà còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý, tài chính và uy tín khi đối tác sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ.

2. Một doanh nghiệp chuyển giao hợp đồng cho bên thứ ba nhưng bên thứ ba sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp ban đầu cần làm gì để giảm rủi ro?

Khi doanh nghiệp chuyển giao hợp đồng cho bên thứ ba nhưng bên thứ ba sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp ban đầu cần xác định trước hết mình còn hay không còn là chủ thể phải chịu trách nhiệm đối với hợp đồng. Theo Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015, việc chuyển giao nghĩa vụ chỉ có hiệu lực khi được bên có quyền đồng ý. Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ. Nếu việc chuyển giao chưa đáp ứng điều kiện này hoặc hợp đồng vẫn quy định doanh nghiệp ban đầu phải liên đới chịu trách nhiệm, doanh nghiệp vẫn có thể bị khách hàng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc bên thứ ba sử dụng phần mềm crack.

Ngay khi phát hiện hành vi vi phạm, doanh nghiệp nên yêu cầu bên thứ ba chấm dứt ngay việc sử dụng phần mềm crack, thay thế bằng phần mềm có bản quyền và có văn bản xác nhận việc khắc phục. Trường hợp hợp đồng có quy định về quyền kiểm tra, giám sát hoặc nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ thì doanh nghiệp cần thực hiện quyền kiểm tra, yêu cầu cung cấp giấy phép sử dụng phần mềm và các tài liệu chứng minh việc sử dụng phần mềm hợp pháp. Nếu bên thứ ba không khắc phục, doanh nghiệp có thể áp dụng các chế tài theo hợp đồng như phạt vi phạm, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận và quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

Vì vậy, việc lưu giữ đầy đủ hồ sơ chuyển giao, biên bản bàn giao, văn bản chấp thuận của bên có quyền, các thông báo yêu cầu khắc phục và tài liệu chứng minh doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quản lý sẽ là chứng cứ quan trọng để chứng minh doanh nghiệp đã thực hiện đúng trách nhiệm, qua đó hạn chế nguy cơ phải liên đới bồi thường hoặc phát sinh tranh chấp.

3. Hình thức và mức xử phạt hành chính khi doanh nghiệp bị phát hiện sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ thường gồm những gì?

Khi doanh nghiệp bị phát hiện sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, tùy tính chất và mức độ vi phạm, doanh nghiệp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 341/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan. 

Cụ thể, đối với hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm, cá nhân vi phạm có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, nếu chủ thể vi phạm là tổ chức thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp nghị định quy định khác. Ngoài hình thức phạt tiền, doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo Nghị định này, như buộc gỡ bỏ, xóa hoặc tiêu hủy bản sao phần mềm vi phạm, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền tác giả và thực hiện các biện pháp cần thiết để khôi phục tình trạng hợp pháp.

Trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 225 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025 vụ việc sẽ không chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính mà còn có thể bị chuyển sang xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp một doanh nghiệp chuyển giao hợp đồng cho bên thứ ba nhưng bên thứ ba sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp cần làm gì để giảm rủi ro?

Khi doanh nghiệp chuyển giao hợp đồng cho bên thứ ba nhưng bên thứ ba sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp ban đầu cần xác định trước hết mình còn hay không còn là chủ thể phải chịu trách nhiệm đối với hợp đồng. Theo Điều 370 Bộ luật Dân sự 2015, việc chuyển giao nghĩa vụ chỉ có hiệu lực khi được bên có quyền đồng ý.

Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ. Nếu việc chuyển giao chưa đáp ứng điều kiện này hoặc hợp đồng vẫn quy định doanh nghiệp ban đầu phải liên đới chịu trách nhiệm, doanh nghiệp vẫn có thể bị khách hàng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc bên thứ ba sử dụng phần mềm crack.

Ngay khi phát hiện hành vi vi phạm, doanh nghiệp nên yêu cầu bên thứ ba chấm dứt ngay việc sử dụng phần mềm crack, thay thế bằng phần mềm có bản quyền và có văn bản xác nhận việc khắc phục. Trường hợp hợp đồng có quy định về quyền kiểm tra, giám sát hoặc nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ thì doanh nghiệp cần thực hiện quyền kiểm tra, yêu cầu cung cấp giấy phép sử dụng phần mềm và các tài liệu chứng minh việc sử dụng phần mềm hợp pháp. Nếu bên thứ ba không khắc phục, doanh nghiệp có thể áp dụng các chế tài theo hợp đồng quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 như phạt vi phạm (Điều 428), yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 170) hoặc chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận (khoản 2 Điều 422).

Vì vậy, việc lưu giữ đầy đủ hồ sơ chuyển giao, biên bản bàn giao, văn bản chấp thuận của bên có quyền, các thông báo yêu cầu khắc phục và tài liệu chứng minh doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quản lý sẽ là chứng cứ quan trọng để chứng minh doanh nghiệp đã thực hiện đúng trách nhiệm, qua đó hạn chế nguy cơ phải liên đới bồi thường hoặc phát sinh tranh chấp.

5. Doanh nghiệp muốn phòng ngừa rủi ro pháp lý do nhân viên sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ cần xây dựng chính sách gì?

Để phòng ngừa rủi ro pháp lý do nhân viên sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp cần xây dựng chính sách quản lý và sử dụng phần mềm có bản quyền. Trong đó quy định rõ chỉ được cài đặt, sử dụng phần mềm có giấy phép hợp pháp, cấm tự ý tải, cài đặt hoặc sử dụng phần mềm crack trên các thiết bị của doanh nghiệp. Theo khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, hành vi sao chép chương trình máy tính mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Căn cứ Điều 118 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp có thể đưa các quy định này vào nội quy lao động, quy định trách nhiệm của nhân viên và hình thức xử lý kỷ luật khi vi phạm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên thực hiện kiểm kê giấy phép phần mềm định kỳ, phân quyền cài đặt phần mềm, đào tạo nhân viên về tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ và kiểm tra thường xuyên các thiết bị làm việc để kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm.

Việc kết hợp giữa chính sách nội bộ và cơ chế kiểm soát hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế nguy cơ bị xử phạt, phát sinh tranh chấp và các rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh.

V. Bạn muốn rà soát lại toàn bộ hệ thống máy tính và xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ để phòng ngừa rủi ro sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ, hãy để NPLaw đồng hành bảo vệ doanh nghiệp của bạn?

Việc kiểm soát chặt chẽ tình trạng sử dụng phần mềm trong doanh nghiệp không chỉ giúp bảo đảm tuân thủ quy định về quyền sở hữu trí tuệ mà còn hạn chế nguy cơ bị xử phạt hành chính, phát sinh tranh chấp hoặc truy cứu trách nhiệm pháp lý. Với kinh nghiệm tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp, NPLaw sẵn sàng hỗ trợ rà soát hệ thống phần mềm, đánh giá rủi ro pháp lý, xây dựng quy trình quản lý và kiểm soát nội bộ, đồng thời tư vấn hoàn thiện các quy chế, hợp đồng và chính sách tuân thủ để doanh nghiệp vận hành an toàn, minh bạch và đúng quy định của pháp luật.

Tóm lại, sử dụng phần mềm crack để kinh doanh dịch vụ là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy từng trường hợp. Vì vậy, doanh nghiệp cần sử dụng phần mềm có bản quyền, tăng cường kiểm soát nội bộ và tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ để hạn chế rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn về trường hợp chi tiết cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.

CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Điện thoại Hotline 1: 0913449968 Hotline 2: 0913419996

Dịch vụ liên quan

​​​​​​​Buôn lậu là gì? khi nào phải chịu trách nhiệm về hành vi buôn lậu?

Song song với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế trong 5 năm trở lại đây, th...

Tội buôn lậu theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam

Buôn lậu là cụm từ khá phổ biến trong đời sống xã hội nhưng không phải ai cũng h...

Giật hụi có thể bị phạt tù theo quy định của bộ luật hình sự?

Hụi là một loại giao dịch về tài sản sớm được hình thành ở nhiều nước trên thế g...

Lừa đảo trực tuyến và cách thức đề phòng

Người dân khi sử dụng Internet, mạng xã hội, ứng dụng trực tuyến mất cảnh giác,...

Làm giả sổ đỏ

  Làm giả sổ đỏ hiện nay là một tình trạng đáng báo động. Cá...

Xét xử tội giết người theo quy định pháp luật hình sự

Xuất phát từ việc bảo vệ con người và tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết ngư...

Tội giết người khi chưa đủ 18 tuổi được quy định như thế nào?

Hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, nhất là tội...

Đe doạ giết người qua tin nhắn bị xử lý như thế nào?

Hiện nay, hành vi đe dọa giết người qua tin nhắn khá phổ biến. Bởi lẽ công nghệ...

WhatsApp WeChat Zalo hotline 0913449968 hotline
0
Bạn đang quan tâm đến

Chúng tôi sẵn sàng tư vấn miễn phí cho bạn!

Tư vấn điện thoại Zalo Tư vấn qua Zalo