Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là vấn đề thường gặp trong doanh nghiệp. Bài viết tìm hiểu quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu và giải đáp một số thắc mắc liên quan.
Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là vấn đề thường gặp trong doanh nghiệp hiện nay. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu
Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng có thể dẫn đến các rủi ro pháp lý sau:
- Bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Cá nhân có hành vi làm giả con dấu hoặc sử dụng con dấu giả có thể bị truy cứu hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi Khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
- Giao dịch bị vô hiệu và bồi thường thiệt hại: Các văn bản, hợp đồng sử dụng con dấu giả sẽ bị tuyên vô hiệu, buộc phải bồi thường thiệt hại cho đối tác và bên thứ ba liên quan nếu hành vi làm giả con dấu gây thiệt hại cho công ty hoặc đối tác theo khoản 1 Điều 419 Bộ luật dân sự 2015.

- Xử phạt hành chính: Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu hoặc sử dụng con dấu giả có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo điểm b khoản 4 Điều 16 Nghị định 282/2015/NĐ-CP.
Theo đó, người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu có thể chịu các rủi ro pháp lý phổ biến nêu trên.
II. Tìm hiểu về người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu
Để hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là hành vi như thế nào trong doanh nghiệp?
- Theo khoản 1 Điều 12 Luật doanh nghiệp 2020 (sửa đổi 2025) quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Làm giả con dấu được hiểu là hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện sao chép, tái tạo, hay làm mô phỏng một con dấu chính thức mà không có sự cho phép của người sở hữu con dấu đó.
Hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu hiện nay có diễn biến rất tinh vi, khó phát hiện và thường liên quan đến các hoạt động gian lận, lừa đảo hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Hành vi làm giả con dấu tùy theo mức độ mà có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là hành vi vi phạm pháp luật trong doanh nghiệp, bao gồm tự tạo ra, sao chép hoặc sử dụng con dấu giả của doanh nghiệp, cơ quan để thực hiện hành vi trái pháp luật.
2. Vì sao người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu có thể xảy ra trong công ty nhỏ?
Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu thường xảy ra trong các công ty nhỏ xuất phát từ nhiều nguyên nhân như:
- Tranh chấp quyền lực nội bộ: Khi công ty nhỏ xảy ra tranh chấp giữa các thành viên, người đại diện có thể tự ý làm giả con dấu nhằm hợp thức hóa các giấy tờ, quyết định để loại bỏ đối tác, chiếm đoạt tài sản hoặc quyền kiểm soát doanh nghiệp.
- Thiếu cơ chế kiểm soát, quản lý con dấu: Khác với doanh nghiệp lớn có quy trình quản lý con dấu nghiêm ngặt, công ty nhỏ thường giao toàn quyền cho người đại diện theo pháp luật nắm giữ và sử dụng con dấu mà không có sự giám sát từ ban kiểm soát hay các bộ phận độc lập.
Do đó, người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu thường xảy ra ở các công ty nhỏ chủ yếu do quản lý nội bộ lỏng lẻo, quyền lực tập trung tuyệt đối, áp lực tài chính và thiếu sự kiểm soát minh bạch từ các thành viên góp vốn. Điều này cho phép người đại diện theo pháp luật dễ dàng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhằm trục lợi cá nhân.
3. Phân biệt người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu với hành vi sử dụng con dấu sai quy định ra sao?
Việc phân biệt giữa hành vi làm giả con dấu và sử dụng con dấu sai quy định của người đại diện theo pháp luật dựa trên tính chất của con dấu và cách thức sử dụng:
- Về bản chất:
- Làm giả con dấu: Đây là hành vi tạo ra một con dấu mới trái phép, không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc không đúng với mẫu dấu đã đăng ký của doanh nghiệp.
- Hành vi sử dụng con dấu sai quy định: Đây là hành vi sử dụng con dấu thật (do doanh nghiệp sở hữu và được cấp phép hợp pháp) nhưng không tuân thủ các quy tắc quản lý, sử dụng theo điều lệ công ty hoặc quy định pháp luật trong quá trình sử dụng.

- Về mục đích:
- Làm giả con dấu: Với mục đích sử dụng con dấu giả để thực hiện các hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Hành vi sử dụng con dấu sai quy định: Sử dụng con dấu sai quy định thường nhằm gian lận, làm giả tài liệu, hoặc xác nhận khống các giao dịch, hợp đồng để trục lợi cá nhân, trốn thuế hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Về trách nhiệm pháp lý:
- Làm giả con dấu: Hành vi vi phạm pháp luật, người thực hiện hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
- Hành vi sử dụng con dấu sai quy định: Hành vi vi phạm pháp luật, người thực hiện hành vi có thể bị xử phạt hành chính do vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng con dấu theo Điều 16 Nghị định 282/2015/NĐ-CP, bị xử lý nội bộ theo quy định trong Điều lệ công ty hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Tóm lại, việc người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu với hành vi sử dụng con dấu sai quy định có những điểm khác biệt nêu trên.
4. Hậu quả kinh tế và uy tín khi người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu đối với công ty là gì?
Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là hành vi vi phạm pháp luật không chỉ dẫn đến trách nhiệm hình sự cá nhân mà còn gây ra những hệ lụy nặng nề về kinh tế và uy tín cho doanh nghiệp:
- Vô hiệu hóa các giao dịch: Các hợp đồng, văn bản được đóng dấu giả có nguy cơ bị tòa án tuyên bố vô hiệu. Doanh nghiệp có thể phải bồi thường thiệt hại cho đối tác hoặc mất đi các quyền lợi kinh tế từ những hợp đồng này.
- Chi phí xử lý: Doanh nghiệp phải tốn kém chi phí cho các hoạt động pháp lý (thuê luật sư), kiểm toán, rà soát lại toàn bộ hệ thống chứng từ và nộp các khoản phạt hành chính liên quan. Ngoài ra, doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật phải bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba hoặc đối tác nếu gây thiệt hại do hành vi làm giả con dấu và bị xử phạt hành chính hoặc hình sự theo quy định pháp luật.
- Mất lòng tin với đối tác và khách hàng: Sự tin tưởng là nền tảng của kinh doanh. Khi thông tin làm giả con dấu bị công khai, các đối tác sẽ lo ngại về tính trung thực và sự an toàn khi giao dịch với công ty.
Có thể thấy, khi người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và uy tín đối với công ty.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu
Tìm hiểu các quy định về người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Luật Doanh nghiệp quy định trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật nếu làm giả con dấu ra sao?
Theo Điều 13 Luật doanh nghiệp 2020 (sửa đổi 2025) quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
- Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
- Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mà mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Luật này.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm nêu trên (Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025).
Theo đó, luật Doanh nghiệp quy định chung về trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật và cũng nhấn mạnh rằng người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật đối với thiệt hại cho doanh nghiệp nếu làm giả con dấu.
2. Bộ luật Hình sự quy định thế nào khi người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu?
Theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức như sau:
- Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
- Có tổ chức;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
- Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Như vậy, người nào làm giả con dấu, tài liệu của của cơ quan tổ chức tùy theo tính chất và mức độ phạm tội mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị truy cứu mức cao nhất là 07 năm tù, ngoài ra còn có thể bị phạt tiền lên đến 50.000.000 đồng.
3. Trình tự tố tụng hình sự khi điều tra người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu thường bao gồm bước gì?
Trình tự tố tụng hình sự khi điều tra người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp về hành vi làm giả con dấu được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025). Ở giai đoạn này, các cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án.
Giai đoạn này được quy định từ Chương 10 đến chương 17 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025). Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Các hoạt động điều tra vụ án hình sự bao gồm:
- Khởi tố và hỏi cung bị can
- Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng.
- Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật
- Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra
- Giám định và định giá tài sản
- Khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố nếu có đủ chứng cứ, hoặc đình chỉ điều tra nếu có một trong các căn cứ quy định tại bộ luật tố tụng hình sự hay đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can là người thực hiện tội phạm theo Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025).
Nhìn chung, trình tự tố tụng hình sự khi điều tra người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu thường thực hiện theo quy định trên.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu
Để hiểu rõ hơn về các quy định người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu để rút tiền từ tài khoản công ty có dấu hiệu và hậu quả gì?
Người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu để rút tiền từ tài khoản công ty có dấu hiệu như:
- Về hành vi: Tự ý khắc dấu hoặc sử dụng các công nghệ in ấn để tạo ra con dấu giống hệt con dấu thật của công ty mà không được sự đồng ý của Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên.
- Về mục đích: Sử dụng con dấu giả để đóng dấu vào các chứng từ ngân hàng (ủy nhiệm chi, séc) nhằm hợp thức hóa hồ sơ rút tiền cho mục đích cá nhân.
- Về thủ đoạn: Thường đi kèm với việc giả mạo chữ ký của những người có thẩm quyền trong doanh nghiệp hoặc lợi dụng việc quản lý con dấu lỏng lẻo để trà trộn, sử dụng con dấu giả.
Hành vi người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu để rút tiền từ tài khoản công ty là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể dẫn đến hậu quả cá nhân vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với nhiều tội danh kết hợp. Cụ thể:
- Theo Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 126 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, theo đó người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. Và tùy theo mức độ nghiêm trọng và trường hợp cụ thể mà mức phạt tù có thể lên đến 07 năm.
- Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu để rút tiền từ tài khoản công ty có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017).
Có thể thấy, việc người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu để rút tiền từ tài khoản công ty là hành vi vi phạm pháp luật và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
2. Cơ quan nào có thẩm quyền xử lý khi có tố cáo người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu?
Theo khoản 2, 3 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 5 và Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
- Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác.
- Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
- Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền xử lý khi có tố cáo người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Công an có thẩm quyền nơi công ty đặt trụ sở hoặc Viện kiểm sát.
3. Chứng cứ nào là quan trọng nhất để chứng minh người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu?
Theo Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
- Vật chứng;
- Lời khai, lời trình bày;
- Dữ liệu điện tử;
- Kết luận giám định, định giá tài sản;
- Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
- Các tài liệu, đồ vật khác.
Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
Để chứng minh người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu có thể căn cứ vào:
- Dữ liệu điện tử: Email, tin nhắn trao đổi về việc thuê khắc dấu giả hoặc hình ảnh file thiết kế con dấu trong máy tính, điện thoại.
- Lời khai của bên thứ ba: Lời khai của cơ sở khắc dấu (nếu tìm được) hoặc nhân viên cấp dưới được chỉ đạo đi làm con dấu giả.
- Hóa đơn, chứng từ thanh toán: Các khoản chi ngoài sổ sách hoặc các khoản chi phí không hợp lệ liên quan đến con dấu giả.
Tuy nhiên, chứng cứ quan trọng nhất để chứng minh người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu là kết luận giám định con dấu/dấu vết con dấu của cơ quan điều tra, đối chiếu mẫu con dấu giả với mẫu con dấu thật đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền (nếu có). Đây là chứng cứ có giá trị pháp lý cao nhất tại Tòa án hoặc cơ quan điều tra. Cơ quan giám định sẽ so sánh con dấu trên tài liệu nghi vấn với con dấu chuẩn đã đăng ký hoặc đang sử dụng thực tế.
4. Trường hợp người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu rồi tẩu tán tài sản ra nước ngoài, thủ tục hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản là gì?
- Theo Điều 491 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác được quy định tại Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, theo quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
- Theo quy định trên, trường hợp người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu rồi tẩu tán tài sản ra nước ngoài, thủ tục hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản bị tẩu tán ra nước ngoài là một quy trình pháp lý phức tạp, kết hợp giữa pháp luật trong nước, các hiệp định song phương và công ước quốc tế. Dưới đây là các bước và cơ chế chính đang được áp dụng hiện nay:
- Khởi tố và điều tra: Cơ quan cảnh sát điều tra Việt Nam khởi tố vụ án về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017).
- Gửi yêu cầu tương trợ tư pháp: Cơ quan có thẩm quyền gửi yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự tới cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tài sản đang bị tẩu tán. Yêu cầu này bao gồm: xác minh, phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản hoặc tạm giữ.
- Thực hiện các biện pháp tư pháp: Tòa án/Cơ quan tư pháp nước sở tại sẽ kiểm tra tính hợp pháp và thực hiện phong tỏa, kê biên theo yêu cầu hoặc theo pháp luật nước họ.
- Thu hồi và chuyển giao: Khi có bản án hoặc quyết định của tòa án Việt Nam, các cơ quan chức năng sẽ tiến hành thủ tục chuyển giao tài sản (thu hồi tài sản) về Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan chức năng có thể khởi kiện dân sự tại nước sở tại để đòi lại tài sản.
- Cơ chế hỗ trợ: Việt Nam có thể sử dụng các hiệp định tương trợ tư pháp song phương hoặc cơ chế "có đi, có lại" để thực hiện.
Theo đó, khi người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu rồi tẩu tán tài sản ra nước ngoài, thủ tục hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản về cơ bản sẽ gồm các bước trên.
5. Doanh nghiệp phải sửa đổi quy trình quản lý con dấu ra sao để tránh người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu?
Để phòng tránh người đại diện theo pháp luật làm giả hoặc lạm dụng con dấu, doanh nghiệp cần siết chặt quy trình quản lý bằng cách ban hành quy chế quản lý dấu chi tiết (quy định người giữ dấu, thủ tục đóng dấu), tách biệt quyền giữ dấu và quyền ký, chuyển đổi sang chữ ký số và kiểm soát chặt chẽ việc khắc dấu mới. Theo đó:
- Tách biệt người quản lý và người sử dụng: Không để con dấu tập trung hoàn toàn vào một người đại diện. Giao con dấu cho bộ phận Văn thư/Thư ký quản lý và lưu giữ trong két sắt.
- Quy định thủ tục đóng dấu: Mọi văn bản chỉ được đóng dấu khi có sự phê duyệt của người thẩm quyền (khác với người ký) và phải lập sổ theo dõi, ghi nhật ký đóng dấu (ai yêu cầu, nội dung gì, ngày giờ).
- Chỉ sử dụng một mẫu dấu: Tránh việc doanh nghiệp tồn tại nhiều mẫu dấu khác nhau, dễ bị lạm dụng.
- Quyết định nội bộ: Quy định chỉ khắc dấu mới khi có nghị quyết/quyết định của Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị, không chỉ dựa trên ý chí cá nhân người đại diện.
- Xác nhận mẫu: Quy định rõ việc hủy dấu cũ và kiểm tra kỹ lưỡng con dấu mới trước khi đưa vào sử dụng.
Kết luận lại, doanh nghiệp cần có quy trình quản lý con dấu chặt chẽ để tránh người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu.
V. Bạn đang tìm công ty luật uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về người đại diện theo pháp luật làm giả con dấu mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.