Việc cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khỏe cá nhân và cộng đồng, đặc biệt trong môi trường lao động. Pháp luật quy định rõ về quyền, nghĩa vụ và giới hạn khi chia sẻ thông tin này, đồng thời bảo vệ tính bảo mật của thông tin y tế. Người lao động và người sử dụng lao động cần hiểu đúng để tránh vi phạm và tranh chấp pháp lý.
I. Vai trò của việc cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý
Việc cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khỏe cá nhân, cộng đồng và đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong quan hệ lao động, khám chữa bệnh. Thông tin chính xác giúp bác sĩ chẩn đoán đúng, đưa ra phương án điều trị phù hợp và hỗ trợ người sử dụng lao động trong việc bố trí công việc, bảo đảm an toàn lao động. Đây cũng là cơ sở để xác định trách nhiệm, quyền lợi về bảo hiểm và các chế độ liên quan đến sức khỏe.
II. Quy định pháp luật về cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý
1. Cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý là gì?
Cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý là hành vi truyền đạt, chia sẻ hoặc chuyển giao các dữ liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe, bệnh sử, quá trình khám chữa bệnh của một cá nhân cho tổ chức, cá nhân khác. Hành vi này có thể được thực hiện bằng văn bản, lời nói hoặc thông qua hồ sơ, tài liệu y tế, với mục đích phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe, quản lý, nghiên cứu hoặc thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định.
2. Khi nào phải cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý?
Việc cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý được thực hiện trong một số trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Theo quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, người hành nghề, cơ sở y tế có trách nhiệm cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý cho người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp trong quá trình khám, chữa bệnh khi có yêu cầu. Ngoài ra, thông tin bệnh lý cũng phải cung cấp trong các trường hợp sau:
- Phục vụ điều trị, chăm sóc sức khỏe: Khi người bệnh chuyển tuyến hoặc cần hội chẩn, chuyển hồ sơ bệnh án, các cơ sở y tế có nghĩa vụ cung cấp thông tin bệnh lý liên quan.
- Khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, hoặc cơ quan quản lý nhà nước) trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Phục vụ mục đích hành chính, lao động: Người lao động có thể được yêu cầu cung cấp thông tin bệnh lý để làm cơ sở nghỉ việc, thanh toán bảo hiểm y tế hoặc các quyền lợi liên quan theo quy định của pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội.

Việc cung cấp phải tuân thủ nguyên tắc bảo mật, chỉ cung cấp đúng phạm vi, đúng đối tượng và đúng mục đích được pháp luật cho phép.
3. Người lao động có phải cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý cho người sử dụng lao động không?
Căn cứ Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động
1. Người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu.
2. Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.
Theo Điều 16 Bộ luật Lao động 2019, khi giao kết hợp đồng, người lao động phải cung cấp trung thực thông tin về tình trạng sức khỏe nếu có liên quan trực tiếp đến công việc hoặc theo yêu cầu hợp lý từ người sử dụng lao động. Như vậy, người lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin sức khỏe trong phạm vi phục vụ việc tuyển dụng và ký kết hợp đồng lao động.
III. Giải đáp một số câu hỏi về cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý
1. Trách nhiệm của người lao động khi không cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý cho người sử dụng lao động như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019, khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động có nghĩa vụ cung cấp trung thực thông tin về “họ, tên, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khỏe và các vấn đề khác có liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động”.
Như vậy, nếu người lao động không cung cấp trung thực tình trạng bệnh lý có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện công việc, thì có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin. Hệ quả là người sử dụng lao động có quyền xem xét việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không giải quyết quyền lợi phát sinh do thông tin sai lệch.
2. Cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý có bị giới hạn theo quy định của pháp luật không?
Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định tại khoản 2 Điều 10 về quyền được giữ bí mật thông tin cá nhân về tình trạng sức khỏe của người bệnh, trừ các trường hợp được pháp luật cho phép hoặc có sự đồng ý của người bệnh.
Như vậy, cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý có bị giới hạn theo quy định pháp luật. Việc tiết lộ, chia sẻ thông tin bệnh lý chỉ được thực hiện trong các trường hợp pháp luật cho phép như: phục vụ điều trị, phòng chống dịch, yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc có sự đồng ý của người bệnh. Điều này nhằm bảo vệ quyền riêng tư và bảo mật thông tin sức khỏe của cá nhân.
3. Thông tin tình trạng bệnh lý có phải là thông tin mật không?
Khoản 2 Điều 10 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định người bệnh có quyền: “Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin khác về đời tư mà người bệnh đã cung cấp cho người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh…”.
Theo đó, thông tin về tình trạng bệnh lý được xem là thông tin mật theo quy định pháp luật. Đây là loại thông tin cá nhân thuộc phạm vi quyền riêng tư của người bệnh và chỉ được tiết lộ khi có sự đồng ý của người bệnh hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Việc tiết lộ trái phép có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy mức độ vi phạm.
4. Hành vi làm lộ thông tin tình trạng bệnh lý của bệnh nhân bị phạt theo quy định là bao nhiêu?
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 38 Nghị định 117/2020/NĐ-CP về xử phạt với hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp như sau:
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi vượt quá khả năng chuyên môn hoặc trái với phạm vi hoạt động chuyên môn của người hành nghề nhưng không báo cáo với người có thẩm quyền hoặc không giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết;
- Yêu cầu người bệnh thanh toán đối với chi phí khám bệnh, chữa bệnh chưa được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật;
- Làm lộ tình trạng bệnh, thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định;
- Cấp giấy xác nhận quá trình thực hành không đúng mẫu theo quy định của pháp luật.
Như vậy, với việc tiết lộ thông tin hồ sơ bệnh án mà không nhận được sự cho phép của người bệnh thì sẽ bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Đây là mức phạt đối với cá nhân (Khoản 5 Điều 4 Nghị định này).

Lưu ý: Trừ trường hợp chia sẽ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định.
5. Cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý sai sự thật có bị xử lý không?
Căn cứ Điều 17 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 quy định:
Nghĩa vụ chấp hành các quy định trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Cung cấp trung thực và chịu trách nhiệm về thông tin liên quan đến nhân thân, tình trạng sức khỏe của mình, hợp tác đầy đủ với người hành nghề và người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Chấp hành chỉ định về chẩn đoán, phương pháp chữa bệnh của người hành nghề.
3. Chấp hành và yêu cầu thân nhân, người đến thăm mình chấp hành nội quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Căn cứ khoản 2 Điều 48 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định:
Vi phạm quy định về nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không tôn trọng, không hợp tác với người hành nghề khi khám bệnh, chữa bệnh;
b) Không tôn trọng quyền của người bệnh theo quy định của pháp luật;
c) Không chấp hành chỉ định chẩn đoán, điều trị của người hành nghề, trừ trường hợp được quyền từ chối chữa bệnh.
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không cung cấp trung thực thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe của mình, không hợp tác đầy đủ với người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Không chấp hành nội quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Không ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai.
...
Như vậy, bệnh nhân có hành vi không cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý sai sự thật sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý
Dịch vụ tư vấn pháp lý về cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý của NP Law hỗ trợ khách hàng hiểu đúng quy định pháp luật liên quan đến việc chia sẻ, bảo mật và xử lý thông tin y tế. Chúng tôi tư vấn quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, hỗ trợ soạn thảo văn bản, giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền riêng tư theo đúng quy định hiện hành.