Thông tin sai lệch về sản phẩm đang trở nên phổ biến, gây ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Pháp luật quy định rõ trách nhiệm và xử phạt đối với cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin không đúng sự thật. Bài viết giải thích khái niệm, mức xử lý, thẩm quyền xử phạt và trách nhiệm liên đới, đồng thời tư vấn pháp lý, giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình.
I. Thực trạng thông tin sai lệch về sản phẩm
Hiện nay, tình trạng cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm ngày càng phổ biến trên các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và các kênh quảng cáo. Nhiều tổ chức, cá nhân cố ý phóng đại công dụng, che giấu khuyết điểm hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, gây hiểu lầm cho người tiêu dùng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi người mua mà còn làm mất niềm tin vào thị trường, gây cạnh tranh không lành mạnh và tiềm ẩn nguy cơ về sức khỏe, an toàn. Việc kiểm soát và xử lý còn gặp nhiều khó khăn.
II. Quy định pháp luật về thông tin sai lệch về sản phẩm
1. Thế nào là thông tin sai lệch về sản phẩm?
Thông tin sai lệch về sản phẩm là những nội dung được tổ chức, cá nhân đưa ra nhưng không đúng sự thật, không đầy đủ hoặc gây hiểu nhầm về sản phẩm. Các thông tin sai lệch này có thể liên quan đến tên gọi, nhãn hiệu, thành phần, công dụng, chất lượng, xuất xứ, giá cả, thời hạn sử dụng, chính sách bảo hành hay các đặc điểm khác của sản phẩm. Bao gồm cả hành vi “thổi phồng” tác dụng, quảng cáo quá mức hoặc giấu nhẹm khuyết điểm, gây nhầm lẫn dẫn đến quyết định tiêu dùng sai lệch
Theo Điều 47, sửa đổi bổ sung bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 24/2025 NĐ-CP, thông tin sai lệch về sản phẩm là mọi thông tin “không đúng, không đầy đủ hoặc gây hiểu nhầm” về đặc tính, công dụng, chất lượng, xuất xứ, giá cả, chính sách bảo hành, an toàn… khi tổ chức, cá nhân cung cấp cho người tiêu dùng, cụ thể:
“Điều 46b. Hành vi vi phạm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
1. Không cung cấp hoặc cung cấp không chính xác hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà mình bán, cung cấp cho người tiêu dùng.
2. …”

Hành vi cung cấp thông tin sai lệch thường nhằm mục đích quảng cáo, tiếp thị hoặc cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và ảnh hưởng xấu đến trật tự kinh doanh.
2. Tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm bị xử lý thế nào?
Trường hợp tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sản phẩm sai lệch với sản phẩm thực tế có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý ở lĩnh vực hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
* Về xử lý vi phạm hành chính:
Căn cứ tại khoản 5 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định quy định về xử phạt hành vi cung cấp thông tin không đúng sự thật như sau:
Vi phạm quy định về hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo
...
5. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 51, điểm b khoản 4 Điều 52, khoản 1 Điều 60, điểm c khoản 1 Điều 61 Nghị định này.
...
Theo đó, tổ chức, cá nhân cung cấp sai lệch so với thông tin sản phẩm bị xử lý hành chính lên đến 80 triệu đồng tùy thuộc vào mức độ, tính chất của hành vi vi phạm, trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 51, điểm b khoản 4 Điều 52, khoản 1 Điều 60, điểm c khoản 1 Điều 61 Nghị định 38/2021/NĐ-CP.
* Về truy cứu trách nhiệm hình sự:
Căn cứ Điều 197 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau:
Tội quảng cáo gian dối
1. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo đó, cá nhân có hành vi quảng cáo thông tin sai lệch so với sản phẩm thực tế có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quảng cáo gian dối với mức phạt tù lên đến 03 năm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Thẩm quyền xử lý hành vi cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm?
Thẩm quyền xử lý hành vi cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm được quy định từ Điều 80 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP). Theo đó, tùy tính chất và mức độ vi phạm, các cơ quan có thẩm quyền xử lý gồm:
- Cơ quan Quản lý thị trường: xử phạt các hành vi cung cấp thông tin sai lệch trong hoạt động thương mại.
- Thanh tra chuyên ngành (Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp...): xử lý hành vi vi phạm trong lĩnh vực chuyên môn.
- Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh: xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền phân cấp.
- Công an nhân dân: xử lý nếu hành vi vi phạm có yếu tố hình sự hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.
Các cơ quan này có thể xử phạt bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo đúng quy định pháp luật.
III. Giải đáp một số câu hỏi thắc mắc về thông tin sai lệch về sản phẩm
1. Thông tin sai lệch về sản phẩm có bị xử lý nếu người bán không cố ý mà chỉ hiểu sai hoặc nhầm lẫn không?
Hành vi cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm vẫn có thể bị xử lý, kể cả khi người bán không cố ý mà chỉ nhầm lẫn hoặc hiểu sai.
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi 2020), vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Trong lĩnh vực thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thông tin về sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua hàng và sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng. Dù không cố tình, việc cung cấp sai thông tin về nguồn gốc, chất lượng, công dụng hay thành phần sản phẩm vẫn có thể gây hậu quả nghiêm trọng, nên pháp luật không chỉ căn cứ vào ý định, mà còn xét hành vi và hậu quả thực tế.

Ví dụ, nếu người bán quảng bá sai công dụng của sản phẩm thực phẩm chức năng do hiểu nhầm từ nhà cung cấp, thì vẫn bị xem là hành vi vi phạm vì đã gây ra sự hiểu lầm cho người tiêu dùng.
Pháp luật xử lý cả hành vi cung cấp thông tin sai lệch do lỗi vô ý. Người bán không thể viện dẫn lý do “không biết” hoặc “nhầm lẫn” để miễn trừ trách nhiệm, mà cần chủ động kiểm chứng thông tin sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Đây là cách đảm bảo sự minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng đúng theo tinh thần của pháp luật hiện hành.
2. Ai chịu trách nhiệm khi có thông tin sai lệch về sản phẩm – nhà sản xuất, nhà phân phối, người bán lẻ hay bên quảng cáo?
Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm về hành vi cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm có thể thuộc về nhiều chủ thể, tùy theo vai trò cụ thể trong chuỗi cung ứng và quảng bá sản phẩm. Cụ thể:
- Người quảng cáo (bên yêu cầu quảng cáo): Theo Khoản 2 Điều 12 Luật Quảng cáo 2012, người quảng cáo có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực, chính xác về sản phẩm và chịu trách nhiệm về các thông tin đó, kể cả trong trường hợp thuê bên khác thực hiện quảng cáo.
- Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo (agency, nền tảng): Theo điểm b Khoản 2 Điều 13 Luật Quảng cáo 2012, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải kiểm tra tài liệu liên quan và chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện.
- Nhà sản xuất, nhà phân phối, người bán lẻ: Tùy vào trường hợp cụ thể, nếu là bên đưa ra thông tin sai lệch hoặc tiếp tay phổ biến thông tin sai, các chủ thể này đều có thể bị xử lý vi phạm hành chính (căn cứ Điều 47 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP) và chịu trách nhiệm dân sự nếu gây thiệt hại cho người tiêu dùng theo Điều 1 (Phạm vi điều chỉnh) và Điều 6 (Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023, luật nhấn mạnh rằng mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác và minh bạch với người tiêu dùng.
Người nổi tiếng tham gia quảng cáo sai sự thật: Nếu người nổi tiếng trực tiếp truyền tải thông tin sai về công dụng sản phẩm, thì cùng với bên yêu cầu quảng cáo, họ phải liên đới chịu trách nhiệm (căn cứ từ khoản 2 Điều 12 Luật Quảng cáo 2012).
Trách nhiệm về thông tin sai lệch về sản phẩm không thuộc riêng một bên, mà tùy vào mức độ tham gia và vai trò cụ thể, các chủ thể có thể bị xử lý độc lập hoặc liên đới. Việc xác định trách nhiệm cụ thể sẽ dựa trên hồ sơ, hợp đồng quảng cáo, bằng chứng truyền thông và kết quả điều tra từ cơ quan có thẩm quyền.
3. Trường hợp cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì có phải bồi thường không? Ai là người có quyền yêu cầu bồi thường?
Căn cứ tại Điều 60 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 có quy định về các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng như sau:
Các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng
1. Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại.
2. Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người.
3. Thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản.
4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Như vậy, các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng bao gồm:
- Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại.
- Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người.
- Thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản.
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Theo đó, nếu người bán cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng (thiệt hại về sức khỏe, lợi ích sử dụng,….) thì người bán phải bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, căn cứ theo Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 quy định về quyền của người tiêu dùng như sau:
- Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, bảo vệ thông tin, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp.
- Được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch; thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, nội dung giao dịch, nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và về tổ chức, cá nhân kinh doanh.
- Lựa chọn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch; thỏa thuận các nội dung giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh; được cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đúng với nội dung đã giao kết.
- Góp ý với tổ chức, cá nhân kinh doanh về giá, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, không bảo đảm an toàn, đo lường, số lượng, khối lượng, chất lượng, công dụng, giá, nội dung khác theo quy định của pháp luật hoặc không đúng với đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
- Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn về kiến thức và kỹ năng tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
- Được tạo điều kiện lựa chọn môi trường tiêu dùng lành mạnh và bền vững.
- Được bảo vệ khi sử dụng dịch vụ công theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Quyền khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, người tiêu dùng được yêu cầu người bán bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, không bảo đảm an toàn, đo lường, số lượng, khối lượng, chất lượng, công dụng, giá, nội dung khác theo quy định của pháp luật hoặc không đúng với đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về thông tin sai lệch về sản phẩm
NP Law cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên sâu liên quan đến hành vi cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm, bao gồm đánh giá tính pháp lý của nội dung quảng cáo, hướng dẫn xử lý khi bị khiếu nại hoặc xử phạt, và đại diện làm việc với cơ quan chức năng. Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, chúng tôi giúp doanh nghiệp và cá nhân đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật, phòng tránh rủi ro và bảo vệ quyền lợi hợp pháp.