Lợi ích của bạn - Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi
0913449968 0913419996 legal@nplaw.vn

Tìm hiểu tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng, dấu hiệu cấu thành, mức hình phạt, trách nhiệm bồi thường và hướng xử lý theo quy định pháp luật hiện hành.

Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng là hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng, gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình và nguồn lực xã hội. Các vi phạm như quyết định đầu tư sai quy định, thiếu trách nhiệm trong quản lý, nghiệm thu không đúng thực tế hoặc gây thất thoát tài sản có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện luật định.

I. Thực trạng vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng hiện nay

Trong quá trình triển khai các dự án đầu tư xây dựng, việc tuân thủ đúng quy định pháp luật về lập, thẩm định, phê duyệt, thi công và quản lý công trình có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và an toàn công trình. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng vẫn xảy ra ở nhiều lĩnh vực, gây thất thoát tài sản, ảnh hưởng đến tiến độ dự án và làm phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện.

Các hành vi vi phạm thường xuất phát từ việc thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, cố ý thực hiện trái quy định nhằm trục lợi hoặc buông lỏng kiểm soát trong quá trình triển khai dự án. Một số vụ việc nghiêm trọng đã được cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lý hình sự, cho thấy mức độ rủi ro pháp lý cao đối với các cá nhân có vai trò quyết định hoặc tham gia trực tiếp vào hoạt động đầu tư, xây dựng công trình.

1. Các hành vi vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng thường gặp trong thực tế

Trong thực tế, vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn như lập, phê duyệt dự án, lựa chọn nhà thầu, thi công, nghiệm thu và quản lý công trình. Các vi phạm này dễ gây thất thoát vốn, ảnh hưởng chất lượng công trình và phát sinh trách nhiệm pháp lý.

Một số hành vi vi phạm thường gặp gồm:

  • Lập, thẩm định, phê duyệt dự án không đúng quy định: Xác định sai tổng mức đầu tư, phê duyệt dự án khi chưa đủ điều kiện hoặc bỏ qua các yêu cầu về khảo sát, đánh giá tính khả thi.
  • Vi phạm trong lựa chọn nhà thầu: Thông thầu, can thiệp trái quy định hoặc lựa chọn nhà thầu không đáp ứng điều kiện năng lực.
  • Thi công, nghiệm thu không đúng thực tế: Thi công sai thiết kế, sử dụng vật liệu không đạt yêu cầu, nghiệm thu khối lượng không đúng nhằm thanh toán vượt giá trị thực tế.
  • Thiếu trách nhiệm trong quản lý, giám sát công trình: Buông lỏng kiểm tra, giám sát dẫn đến sai phạm, gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến an toàn công trình.

Các hành vi trên nếu gây hậu quả nghiêm trọng và đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng theo quy định của pháp luật.

2. Một số vụ án điển hình liên quan đến tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Trong thực tiễn xét xử, một số vụ án về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử, chủ yếu liên quan đến sai phạm trong quản lý dự án, thi công, nghiệm thu và sử dụng nguồn vốn đầu tư.

Một số bản án tiêu biểu có thể kể đến như:

  • Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 24/09/2024: Vụ án liên quan đến các bị cáo là người có trách nhiệm trong quản lý, thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhưng đã vi phạm quy định về trình tự đầu tư, thi công, nghiệm thu công trình, gây hậu quả nghiêm trọng.
  • Bản án số 442/2022/HS-PT ngày 29/06/2022: Vụ án liên quan đến hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý, giám sát quá trình triển khai công trình xây dựng, dẫn đến sai phạm và gây thiệt hại.

Các vụ án trên cho thấy cá nhân tham gia quản lý, quyết định hoặc giám sát hoạt động đầu tư xây dựng nếu vi phạm quy định, gây hậu quả nghiêm trọng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

II. Khái niệm về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Để xác định một hành vi có bị xem xét là tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng hay không, cần làm rõ khái niệm, chủ thể thực hiện, cũng như các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này theo quy định của Bộ luật Hình sự.

1. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng là gì?

Theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi các năm 2017, 2025) sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung) về “Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”, theo đó tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí được giao để vi phạm quy định về đầu tư, xây dựng, gây thiệt hại nghiêm trọng.

Các hành vi phổ biến gồm: quyết định đầu tư sai quy định, lập hoặc phê duyệt thiết kế, dự toán, nghiệm thu công trình trái pháp luật; lựa chọn nhà thầu không đủ năng lực; thông đồng làm sai lệch kết quả trong quá trình thực hiện dự án. Người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù tùy theo mức độ thiệt hại và tính chất hành vi.

2. Chủ thể của tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng bao gồm những ai?

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ một số trường hợp luật định.

Đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung), chủ thể của tội phạm phải là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động đầu tư, xây dựng như quyết định đầu tư, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, nghiệm thu công trình, lựa chọn nhà thầu hoặc quản lý, giám sát dự án.

Như vậy, không phải mọi cá nhân tham gia vào hoạt động xây dựng đều có thể là chủ thể của tội danh này, mà chỉ những người có thẩm quyền, nhiệm vụ liên quan nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm và gây hậu quả nghiêm trọng mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng khác gì với các tội phạm về quản lý kinh tế khác?

Điểm khác biệt của tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng so với các tội phạm về quản lý kinh tế khác nằm ở lĩnh vực tác động và hành vi vi phạm. Tội danh này tập trung vào các sai phạm trong hoạt động đầu tư, xây dựng như quyết định đầu tư trái quy định, lập, thẩm định, phê duyệt dự toán, nghiệm thu công trình hoặc lựa chọn nhà thầu không đúng quy định.

Trong khi đó, các tội phạm về quản lý kinh tế khác có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, đấu thầu, quản lý tài sản hoặc hoạt động kinh doanh. Vì vậy, để xác định đúng tội danh cần căn cứ vào hành vi cụ thể, chức vụ, quyền hạn của người thực hiện và hậu quả do hành vi vi phạm gây ra.

III. Quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự nhằm xử lý các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định trong hoạt động đầu tư, xây dựng.

1. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng được quy định như thế nào trong Bộ luật Hình sự?

Theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi) quy định về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng như sau:

- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Quyết định đầu tư xây dựng không đúng quy định của Luật xây dựng;

b) Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, điều chỉnh dự toán, nghiệm thu công trình sử dụng vốn của Nhà nước trái với quy định của Luật xây dựng;

c) Lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng;

d) Dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, xây dựng công trình.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a) Vì vụ lợi;

b) Có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

- Phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, Điều 224 Bộ luật Hình sự tập trung xử lý các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm quy định trong hoạt động đầu tư, xây dựng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, lợi ích của Nhà nước hoặc các chủ thể liên quan.

2. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm:

  • Chủ thể: Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Đồng thời, người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động đầu tư xây dựng như quyết định đầu tư, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, nghiệm thu công trình hoặc lựa chọn nhà thầu.
  • Khách thể: Tội phạm này xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình, đặc biệt là việc quản lý, sử dụng đúng quy định các nguồn lực trong hoạt động xây dựng.
  • Mặt khách quan: Hành vi phạm tội bao gồm:
    • Quyết định đầu tư xây dựng không đúng quy định của Luật Xây dựng;
    • Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, điều chỉnh dự toán, nghiệm thu công trình sử dụng vốn nhà nước trái quy định;
    • Lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực thực hiện hoạt động xây dựng;
    • Dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, xây dựng công trình.

Các hành vi trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây thiệt hại từ 100 triệu đồng trở lên hoặc dưới mức này nhưng người vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tương tự mà còn tiếp tục vi phạm.

  • Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nhận thức được hành vi của mình là trái quy định pháp luật và có khả năng gây thiệt hại nhưng vẫn thực hiện.

Theo đó, việc xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm là căn cứ quan trọng để phân biệt tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực xây dựng.

3. Khung hình phạt đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, người phạm tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng có thể bị áp dụng các khung hình phạt sau:

  • Khung hình phạt 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện các hành vi vi phạm quy định về đầu tư xây dựng, gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm. Các hành vi gồm:
    • Quyết định đầu tư xây dựng không đúng quy định của pháp luật;
    • Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, điều chỉnh dự toán, nghiệm thu công trình sử dụng vốn nhà nước trái quy định;
    • Lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực;
    • Dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, xây dựng công trình.
  • Khung hình phạt 2: Phạt tù từ 03 năm đến 12 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: vì vụ lợi; có tổ chức; dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; hoặc gây thiệt hại từ 300 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng.
  • Khung hình phạt 3: Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm nếu hành vi phạm tội gây thiệt hại từ 01 tỷ đồng trở lên.
  • Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, mức hình phạt đối với tội danh này phụ thuộc chủ yếu vào hậu quả thiệt hại, tính chất hành vi và các tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng (Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung), không phải tất cả các tình tiết tại Điều 51 (giảm nhẹ) và Điều 52 (tang nặng) đều có khả năng áp dụng trên thực tế. Đây là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, thường do chủ đầu tư, người quyết định đầu tư, nhà thầu, đơn vị tư vấn, giám sát hoặc cá nhân có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong quá trình đầu tư xây dựng. Vì vậy, các tình tiết phù hợp như sau:

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng, người phạm tội có thể được xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật này như:

  • Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của hành vi phạm tội;
  • Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả của công trình vi phạm;
  • Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn;
  • Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
  • Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
  • Tự thú;
  • Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
  • Tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
  • Lập công chuộc tội;
  • Có thành tích xuất sắc trong công tác, sản xuất hoặc học tập;
  • Là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Ngoài ra, Tòa án có thể xem xét đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nếu có căn cứ và phải ghi rõ trong bản án.

Lưu ý: Các tình tiết đã được sử dụng để xác định tội phạm hoặc khung hình phạt thì không được tiếp tục coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng, các tình tiết tăng nặng thường gặp theo Điều 52 Bộ luật này gồm:

  • Phạm tội có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
  • Cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng mặc dù biết rõ hậu quả có thể xảy ra;
  • Phạm tội từ hai lần trở lên;
  • Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
  • Lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt của xã hội để thực hiện hành vi vi phạm trong đầu tư xây dựng;
  • Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm che giấu hành vi vi phạm, như lập hồ sơ khống, giả mạo tài liệu, hợp thức hóa nghiệm thu hoặc quyết toán;
  • Có hành vi xảo quyệt nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm sau khi hành vi bị phát hiện.

Lưu ý: Những tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt của Điều 224 Bộ luật Hình sự thì không được tiếp tục áp dụng là tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt.

Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được Tòa án xem xét trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết cụ thể của vụ án.

5. Người phạm tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng có phải bồi thường thiệt hại hay không?

Ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Bên cạnh đó, Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.

Đối với trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại, Điều 605 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng công trình phải bồi thường; nếu người thi công có lỗi trong việc để công trình gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng

Trong quá trình áp dụng pháp luật, tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng phát sinh nhiều vấn đề cần được làm rõ. Dưới đây là giải đáp một số thắc mắc thường gặp.

1. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng có bắt buộc phải gây thiệt hại mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có, nhưng không phải trong mọi trường hợp. Theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung), người có chức vụ, quyền hạn thực hiện các hành vi vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Gây thiệt hại từ 100 triệu đồng trở lên; hoặc
  • Gây thiệt hại dưới 100 triệu đồng nhưng trước đó đã bị xử lý kỷ luật về chính hành vi này mà còn vi phạm.

Như vậy, thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm trong đa số trường hợp. Tuy nhiên, ngay cả khi thiệt hại dưới 100 triệu đồng, người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà tiếp tục vi phạm.

Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người phạm tội có thể bị áp dụng các khung hình phạt nghiêm khắc hơn nếu phạm tội vì vụ lợi, có tổ chức, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc gây thiệt hại từ 300 triệu đồng trở lên theo quy định tại Điều 224 Bộ luật này.

2. Cá nhân hay pháp nhân có thể bị xử lý về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng?

Chỉ cá nhân mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng. Theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung), chủ thể của tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động đầu tư xây dựng, như người quyết định đầu tư, người lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán, người nghiệm thu công trình hoặc người có thẩm quyền lựa chọn nhà thầu.

Đồng thời, Điều 76 Bộ luật này quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 33 tội danh được liệt kê trong Bộ luật Hình sự, trong đó không có tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng theo Điều 224.

3. Người thực hiện theo chỉ đạo cấp trên có phải chịu trách nhiệm về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng không?

Có, nếu người đó biết hoặc phải biết chỉ đạo là trái pháp luật và vẫn cố ý thực hiện thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên không phải là căn cứ đương nhiên để được miễn trách nhiệm hình sự. Theo Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung), người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng và đủ yếu tố cấu thành tội phạm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi, mức độ lỗi và hậu quả do mình gây ra.

Chỉ trong trường hợp thuộc quy định loại trừ trách nhiệm hình sự khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân theo Bộ luật Hình sự thì người thi hành mệnh lệnh mới có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này không áp dụng đối với hoạt động đầu tư công trình xây dựng.

4. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng có được hưởng án treo không?

Người phạm tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng có thể được hưởng án treo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, không phải mọi trường hợp phạm tội đều bị bắt buộc chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung, người bị phạt tù không quá 03 năm có thể được Tòa án xem xét cho hưởng án treo nếu xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù và người phạm tội có đủ điều kiện theo quy định. Đối với tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 224 Bộ luật này, khung hình phạt cơ bản là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Vì vậy, trong trường hợp người phạm tội chỉ bị tuyên mức án tù không quá 03 năm và đáp ứng các điều kiện khác thì vẫn có khả năng được hưởng án treo.

5. Làm thế nào để phân biệt tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng?

Việc phân biệt tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng cần dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả xảy ra và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật.

Trước hết, tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng là hành vi vi phạm các quy định về đầu tư xây dựng công trình gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, được quy định tại Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung. Người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đầy đủ các yếu tố cfấu thành tội phạm, trong đó hành vi vi phạm phải đạt mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội và gây ra hậu quả theo quy định.

Trong khi đó, vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng thường là các hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước trong hoạt động xây dựng nhưng chưa đến mức bị coi là tội phạm. Các hành vi này có thể bị xử phạt bằng các biện pháp hành chính như phạt tiền, buộc khắc phục hậu quả, đình chỉ hoạt động hoặc áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn tại NPLaw khi có vấn đề về tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng?

Các vụ việc liên quan đến tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng thường có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều quy định của pháp luật về xây dựng, đầu tư công, đấu thầu và hình sự. Việc xác định hành vi vi phạm, chủ thể chịu trách nhiệm, thiệt hại và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đòi hỏi sự đánh giá toàn diện từ góc độ pháp lý.

Với đội ngũ luật sư có kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự và tư vấn doanh nghiệp, NPLaw hỗ trợ khách hàng đánh giá rủi ro pháp lý, tư vấn phương án xử lý phù hợp, tham gia bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời, NPLaw còn hỗ trợ rà soát hồ sơ đầu tư, hồ sơ xây dựng, tư vấn tuân thủ pháp luật nhằm phòng ngừa các rủi ro pháp lý phát sinh trong hoạt động đầu tư công trình xây dựng.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.

CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Điện thoại Hotline 1: 0913449968 Hotline 2: 0913419996

Dịch vụ liên quan

​​​​​​​Buôn lậu là gì? khi nào phải chịu trách nhiệm về hành vi buôn lậu?

Song song với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế trong 5 năm trở lại đây, th...

Tội buôn lậu theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam

Buôn lậu là cụm từ khá phổ biến trong đời sống xã hội nhưng không phải ai cũng h...

Giật hụi có thể bị phạt tù theo quy định của bộ luật hình sự?

Hụi là một loại giao dịch về tài sản sớm được hình thành ở nhiều nước trên thế g...

Lừa đảo trực tuyến và cách thức đề phòng

Người dân khi sử dụng Internet, mạng xã hội, ứng dụng trực tuyến mất cảnh giác,...

Làm giả sổ đỏ

  Làm giả sổ đỏ hiện nay là một tình trạng đáng báo động. Cá...

Xét xử tội giết người theo quy định pháp luật hình sự

Xuất phát từ việc bảo vệ con người và tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết ngư...

Tội giết người khi chưa đủ 18 tuổi được quy định như thế nào?

Hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, nhất là tội...

Đe doạ giết người qua tin nhắn bị xử lý như thế nào?

Hiện nay, hành vi đe dọa giết người qua tin nhắn khá phổ biến. Bởi lẽ công nghệ...

WhatsApp WeChat Zalo hotline 0913449968 hotline
0
Bạn đang quan tâm đến

Chúng tôi sẵn sàng tư vấn miễn phí cho bạn!

Tư vấn điện thoại Zalo Tư vấn qua Zalo