Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, các phương tiện truyền thông kỹ thuật số như mạng xã hội, nền tảng chia sẻ video, website và ứng dụng di động đã trở thành công cụ phổ biến để truyền tải nội dung. Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Trước thực trạng đó, việc hiểu đúng pháp luật và có hướng xử lý phù hợp khi bị xâm phạm trên đa phương tiện là hết sức cần thiết, đặc biệt đối với cá nhân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo, truyền thông, công nghệ. Bài viết sau đây NPLAW sẽ cung cấp những phân tích pháp lý cơ bản và tư vấn cụ thể các bước xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên các nền tảng đa phương tiện, giúp bạn bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của mình trong môi trường số.

I. Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc sáng tạo và lan truyền các sản phẩm trí tuệ trên đa phương tiện như website, mạng xã hội, nền tảng video trực tuyến, podcast, ứng dụng di động,... ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ tinh vi.

Một số hình thức vi phạm phổ biến hiện nay bao gồm:

- Sao chép, sử dụng trái phép hình ảnh, bài viết, video, nhạc trên mạng xã hội;

- Phát tán phần mềm, nội dung kỹ thuật số không có bản quyền;

- Mạo danh thương hiệu, sử dụng logo, nhãn hiệu trên nền tảng thương mại điện tử;

- Tự ý khai thác sáng chế, bí mật kinh doanh được chia sẻ qua các phương tiện kỹ thuật số.

Tại Việt Nam, mặc dù pháp luật đã có quy định bảo vệ quyền SHTT, nhưng ý thức tuân thủ và khả năng kiểm soát vi phạm trong môi trường số vẫn còn nhiều hạn chế. Việc xử lý các hành vi vi phạm trên đa phương tiện thường gặp khó khăn do vấn đề về thẩm quyền, bằng chứng điện tử, cũng như giới hạn pháp lý trong xử lý vi phạm xuyên biên giới.

II. Xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện là gì?

1. Khái niệm về xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

Xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện là hành vi sử dụng, khai thác, phát tán hoặc chiếm đoạt các đối tượng được bảo hộ quyền SHTT (như tác phẩm, nhãn hiệu, sáng chế, phần mềm, bí mật kinh doanh, thiết kế, bản ghi âm...) trên các nền tảng kỹ thuật số mà không có sự cho phép của chủ thể quyền hoặc vi phạm các điều kiện pháp luật quy định.

Đa phương tiện ở đây bao gồm tất cả các phương tiện truyền thông kỹ thuật số như:

- Website, blog cá nhân;

- Mạng xã hội (Facebook, YouTube, TikTok...);

- Nền tảng thương mại điện tử (Shopee, Lazada...);

- Ứng dụng di động, phần mềm, podcast, game…

 

2. Các trường hợp dẫn đến xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

Một số tình huống phổ biến dẫn đến vi phạm như:

- Tự ý sử dụng hình ảnh, video, nhạc nền có bản quyền để làm nội dung trên mạng xã hội;

- Tải lại và phát tán phần mềm, ebook, tài liệu học tập không có giấy phép;

- Mở kênh YouTube hoặc Fanpage mạo danh thương hiệu của cá nhân/doanh nghiệp khác;

- Thiết kế, bán hàng giả/nhái sử dụng tên nhãn hiệu, mẫu mã đã được đăng ký bảo hộ.

3. Cách giải quyết khi xảy ra xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

Khi xảy ra hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, cơ quan có thẩm quyền hoặc chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp xử lý sau:

 

Biện pháp dân sự

Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ, Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:

- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

- Buộc bồi thường thiệt hại;

- Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

Xử phạt hành chính

Các hành vi vi phạm về sở hữu trí tuệ có thể bị xử phạt hành chính tùy từng hành vi vi phạm theo:

- Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 126/2021/NĐ-CP, Nghị định số 46/2024/NĐ-CP;

- Nghị định số 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP, Nghị định số 129/2021/NĐ-CP;

Xử lý hình sự

Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 như: 

- Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Điều 225;

- Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226;...

III. Quy định pháp luật liên quan đến xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

1. Quy định liên quan khi giải quyết xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

Tại Việt Nam, các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và trên đa phương tiện nói riêng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật, trong đó quan trọng nhất là:

- Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022;

- Bộ luật Dân sự 2015 (quy định về quyền tài sản, bồi thường thiệt hại...);

- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 (các tội xâm phạm quyền SHTT, ví dụ: Điều 225, 226…);

- Nghị định 65/2023/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT;

- Luật An ninh mạng 2018, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, và các nghị định liên quan đến thương mại điện tử, thông tin trên mạng xã hội.

Ngoài ra, Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế liên quan như Công ước Berne, Hiệp định TRIPS, WIPO Copyright Treaty (WCT) và các FTA thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, nên các hành vi vi phạm trên môi trường số cũng có thể bị xử lý theo các cam kết quốc tế.

2. Ai có thẩm quyền giải quyết xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, cụ thể gồm:

a) Cơ quan hành chính:

- Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Thanh tra Sở KH&CN, Cục Quản lý thị trường (nếu vi phạm liên quan đến hàng hóa, thương mại);

- Sở Thông tin và Truyền thông, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (đối với vi phạm qua mạng xã hội, website...);

- Cục Bản quyền tác giả, Cục Sở hữu trí tuệ (tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ xử lý ban đầu).

b) Tòa án nhân dân có thẩm quyền:

Xử lý các tranh chấp dân sự hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm quyền SHTT. Ngoài ra, đối với hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Tòa án nhân dân cũng là cơ quan có thẩm quyền giải quyết. 

c) Cơ quan điều tra – Công an nhân dân:

Xử lý hình sự các hành vi vi phạm nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự (ví dụ: sao chép, phân phối phần mềm lậu quy mô lớn).

d) Các nền tảng số (YouTube, Facebook, TikTok...):

Chủ thể quyền có thể gửi yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm, hoặc khiếu nại thông qua hệ thống quản lý bản quyền kỹ thuật số (Content ID, Report Infringement...).

 

3. Hậu quả nếu xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện không được xử lý?

Việc không xử lý hoặc xử lý không kịp thời các hành vi xâm phạm SHTT trên đa phương tiện có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, gồm:

Hậu quả đối với chủ thể quyền:

- Mất doanh thu, mất quyền kiểm soát đối tượng SHTT;

- Ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và cơ hội phát triển sản phẩm, dịch vụ;

- Khó thực hiện các hoạt động thương mại hóa hoặc gọi vốn đầu tư do quyền không được bảo vệ rõ ràng.

Hậu quả đối với thị trường:

- Mất công bằng cạnh tranh, hàng giả/hàng nhái lấn át sản phẩm chính hãng;

- Hạn chế đổi mới sáng tạo do môi trường thiếu an toàn pháp lý.

Hậu quả xã hội – pháp lý:

- Gia tăng hành vi vi phạm vì thiếu răn đe;

- Việt Nam có thể bị đánh giá thấp về mức độ bảo vệ quyền SHTT trong các cam kết quốc tế;

- Tạo lỗ hổng trong quản lý nội dung trên không gian mạng, ảnh hưởng đến an ninh văn hóa, thông tin.

IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

1. Có cần phải chứng minh thiệt hại trong trường hợp xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện không?

Theo Điều 205 Luật SHTT, để yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện, cần phải chứng minh thiệt hại.

Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:

- Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;

- Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;

- Thiệt hại vật chất theo các cách tính khác do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đưa ra phù hợp với quy định của pháp luật;

- Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.

Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại.

2. Quy trình khởi kiện trong trường hợp xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện diễn ra như thế nào?

Hiện nay, pháp luật không có một quy định riêng biệt cho quy trình khởi kiện đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện. Trên thực tế, việc khởi kiện được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự chung, kết hợp với các quy định chuyên ngành về sở hữu trí tuệ. Quy trình cơ bản gồm các bước sau:

Thu thập chứng cứ và xác định hành vi vi phạm.

Đây là bước nền tảng để chứng minh quyền SHTT bị xâm phạm. Việc thu thập chứng cứ và xác định hành vi vi phạm có thể được tiến hành như sau:

- Ghi nhận các hành vi sử dụng tác phẩm, nhãn hiệu, sáng chế… trái phép trên mạng xã hội, website, nền tảng thương mại điện tử hoặc các phương tiện số khác.

- Sử dụng các biện pháp như lập vi bằng thông qua thừa phát lại; chụp ảnh, quay video, lưu bản sao dữ liệu điện tử có xác thực thời gian.

- Thu thập giấy tờ chứng minh quyền SHTT của mình (Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, Bằng độc quyền sáng chế, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả…).

- Xác định rõ yếu tố vi phạm (ví dụ: so sánh dấu hiệu xâm phạm với đối tượng được bảo hộ)

Gửi yêu cầu chấm dứt vi phạm (không bắt buộc) 

Điều 198 Luật SHTT cho phép chủ thể quyền áp dụng biện pháp tự bảo vệ như yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai hoặc bồi thường thiệt hại.

Cách thực hiện:

- Gửi công văn, email, hoặc thư yêu cầu chính thức tới bên vi phạm, nêu rõ hành vi, căn cứ pháp luật, yêu cầu xử lý và thời hạn đáp ứng.

- Nếu cần, thông qua luật sư để tăng tính ràng buộc.

Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Hồ sơ cơ bản gồm:

- Đơn khởi kiện, nêu rõ thông tin các bên, yêu cầu khởi kiện, căn cứ pháp lý và chứng cứ.

- Bản sao hợp lệ giấy tờ tùy thân của người khởi kiện (CMND/CCCD/Hộ chiếu) hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

- Tài liệu chứng minh quyền SHTT (giấy chứng nhận, bằng độc quyền…).

- Chứng cứ vi phạm (vi bằng, ảnh chụp, bản in, dữ liệu điện tử…).

- Chứng từ về thiệt hại và yêu cầu bồi thường (nếu có).

- Biên bản hòa giải hoặc thư yêu cầu chấm dứt vi phạm (nếu đã thực hiện).

Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền

Nếu bị đơn cư trú hoặc có trụ sở tại Việt Nam, thông thường thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân cấp khu vực (Điều 35, Điều 39 BLTTDS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025). Nếu có yếu tố nước ngoài hoặc bị đơn ở nước ngoài, thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án.

Sau khi nhận đơn và tạm ứng án phí hợp lệ, Tòa sẽ thụ lý vụ án. Quy trình xử lý:

- Giai đoạn chuẩn bị xét xử: Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải giữa các bên.

- Nếu hòa giải không thành, Tòa mở phiên xét xử sơ thẩm.

- Bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo/kháng nghị để đưa lên phúc thẩm.

Thời hạn: Tùy vụ việc, thường từ 4–6 tháng ở sơ thẩm, nhưng có thể kéo dài nếu vụ việc phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài.

Thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án

Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, bên thắng kiện có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Trường hợp bị đơn không tự nguyện thực hiện, cơ quan thi hành án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế.

3. Những biện pháp phòng ngừa nào có thể áp dụng để ngăn chặn xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện?

Để ngăn chặn xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện, có thể áp dụng những biện pháp phòng ngừa như sau:

- Đăng ký quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, bản quyền, sáng chế…) tại Cục SHTT hoặc Cục Bản quyền tác giả;

- Sử dụng công nghệ số để bảo vệ nội dung, như watermark, mã hóa, hệ thống quản lý bản quyền (DRM, Content ID);

- Xây dựng điều khoản pháp lý rõ ràng khi đăng tải nội dung trên các nền tảng;

- Theo dõi và giám sát thị trường số để kịp thời phát hiện vi phạm;

- Chủ động tuyên truyền, cảnh báo cho người dùng và khách hàng;

- Thường xuyên cập nhật các chính sách bảo vệ quyền trên nền tảng số;

- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại. 

4. Các nguyên tắc quốc tế nào áp dụng cho việc xử lý xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện?

Việt Nam đang áp dụng các nguyên tắc quốc tế quan trọng trong xử lý xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện, cụ thể như sau:

- Nguyên tắc bảo hộ tối thiểu theo Hiệp định TRIPS;

- Nguyên tắc quốc gia đối xử và đối xử tối huệ quốc (tức là không phân biệt đối xử giữa công dân trong nước và nước ngoài);

- Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên: Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.

- Quyền ưu tiên đối với đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp;

- Nguyên tắc “Cân bằng lợi ích” của chủ SHTT và lợi ích của xã hội được thể hiện xuyên suốt từ quá trình xác lập quyền, thực thi quyền và bảo vệ quyền SHTT

5. Có những dạng xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện nào phổ biến nhất hiện nay?

Hiện nay, xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện diễn ra phổ biến, có thể gồm một số dạng hành vi như sau:

- Sao chép, đăng tải trái phép video, nhạc, phần mềm trên mạng xã hội, YouTube, website;

- Giả mạo thương hiệu, nhãn hiệu trên các sàn thương mại điện tử;

- Lợi dụng AI để tạo nội dung “deepfake” hoặc sao chép phong cách tác phẩm đã có bản quyền;

- Vi phạm bản quyền hình ảnh, thiết kế khi sử dụng không xin phép trên fanpage, quảng cáo;

- Làm giả ứng dụng, trò chơi hoặc phần mềm trên chợ ứng dụng (App Store, CH Play).

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn liên quan đến xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện

Việc tìm luật sư tư vấn trong các vấn đề xâm phạm SHTT trên đa phương tiện là rất cần thiết, vì:

- Vấn đề phức tạp, nhiều quy định chồng chéo giữa pháp luật SHTT, mạng, hình sự, hành chính;

- Khó thu thập chứng cứ trên môi trường số, luật sư có thể hỗ trợ định vị vi phạm và lập hồ sơ chứng minh;

- Đảm bảo sử dụng đúng phương thức giải quyết: hành chính, khởi kiện, khiếu nại nền tảng;

- Tư vấn mức bồi thường thiệt hại hợp lý và khả năng thắng kiện;

- Hạn chế rủi ro khi bị tố ngược hoặc vi phạm quy trình pháp lý.

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn về xâm phạm sở hữu trí tuệ trên đa phương tiện, vui lòng liên hệ cho NPLAW để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.