Bài viết tìm hiểu quy định pháp luật về xung đột về bản quyền phần mềm và giải đáp một số thắc mắc liên quan. Quý khách hàng có thể liên hệ đến NPLaw để được tư vấn pháp lý cụ thể hơn về vấn đề này.

I. Thực trạng xung đột về bản quyền phần mềm trong giai đoạn hiện nay

Thực trạng xung đột về bản quyền phần mềm hiện nay đang xảy ra khá phổ biến khi công nghệ ngày càng phát triển và nhiều sản phẩm sáng tạo ra đời. Xung đột bản quyền phần mềm ở Việt Nam đang là một vấn đề nhức nhối, thể hiện qua tình trạng vi phạm bản quyền cao, đặc biệt trên môi trường số.

1. Định nghĩa về xung đột về bản quyền phần mềm

Dựa vào các quy định pháp luật liên quan về sở hữu trí tuệ, có thể hiểu, bản quyền là quyền pháp lý của tác giả hoặc chủ sở hữu đối với tác phẩm của mình, bao gồm quyền sử dụng, sao chép, phân phối và trình bày tác phẩm. Bản quyền bảo vệ các tác phẩm như sách, âm nhạc, phim ảnh, phần mềm và nghệ thuật. Nó ngăn cấm người khác sử dụng tác phẩm mà không có sự cho phép của chủ sở hữu.

Xung đột về bản quyền phần mềm là tranh chấp xảy ra khi có sự bất đồng hoặc mâu thuẫn về quyền pháp lý của tác giả hoặc chủ sở hữu đối với tác phẩm là phần mềm, bao gồm quyền sử dụng, sao chép, phân phối và trình bày tác phẩm phần mềm.

2. Phân loại xung đột về bản quyền phần mềm

Xung đột về bản quyền phần mềm có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí như sau:

Mức độ vi phạm:

  • Vi phạm nhẹ: Sử dụng phần mềm không có giấy phép với số lượng ít, hoặc sử dụng phần mềm cho mục đích cá nhân khi đã có giấy phép cho mục đích thương mại.
  • Vi phạm nghiêm trọng: Sao chép, phân phối phần mềm trái phép với số lượng lớn, sử dụng phần mềm crack, hoặc sử dụng phần mềm có bản quyền cho mục đích thương mại khi không có giấy phép.
  • Vi phạm đặc biệt nghiêm trọng: Phát triển và phân phối phần mềm độc hại, phần mềm gián điệp, hoặc phần mềm vi phạm bản quyền một cách có hệ thống.

Đối tượng vi phạm:

  • Vi phạm bởi cá nhân: Sử dụng phần mềm không có giấy phép cho mục đích cá nhân.
  • Vi phạm bởi tổ chức: Sử dụng phần mềm không có giấy phép trong doanh nghiệp, tổ chức, hoặc cơ quan nhà nước.
  • Vi phạm bởi nhà phát triển phần mềm: Phát triển và phân phối phần mềm vi phạm bản quyền của người khác.
  • Vi phạm bởi nhà cung cấp dịch vụ: Cung cấp dịch vụ dựa trên phần mềm vi phạm bản quyền.

Hành vi vi phạm: Sao chép, phân phối, sửa đổi, sử dụng trái phép.

Mục đích vi phạm: Sử dụng cho mục đích cá nhân, thương mại, phát triển phần mềm độc hại.

Tính chất vi phạm: Vi phạm có chủ đích, vô ý, hoặc do thiếu hiểu biết.

II. Quy định pháp lý liên quan xung đột về bản quyền phần mềm

1. Ảnh hưởng của xung đột về bản quyền phần mềm

Xung đột bản quyền phần mềm gây ra nhiều ảnh hưởng, bao gồm:

Thiệt hại kinh tế:

  • Mất doanh thu: Các nhà phát triển phần mềm mất nguồn thu nhập từ việc bán giấy phép và bản quyền, ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. 
  • Chi phí pháp lý: Giải quyết tranh chấp bản quyền phần mềm có thể tốn kém, bao gồm chi phí thuê luật sư, tòa án, và các chi phí liên quan khác.

Giảm đầu tư: Các nhà phát triển có thể giảm đầu tư vào nghiên cứu và phát triển phần mềm mới nếu không thu được lợi nhuận từ sản phẩm hiện tại.

Ảnh hưởng đến thị trường: Xung đột hoặc vi phạm bản quyền có thể làm méo mó thị trường, khiến các doanh nghiệp tuân thủ luật gặp bất lợi. 

Ảnh hưởng uy tín:

  • Mất lòng tin khách hàng: Việc sử dụng phần mềm không có bản quyền có thể làm giảm uy tín của công ty, đặc biệt là đối với các khách hàng và đối tác. 
  • Hình ảnh truyền thông: Tranh chấp bản quyền kéo dài có thể làm xấu đi hình ảnh truyền thông của công ty, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh. 

2. Quy định liên quan xung đột về bản quyền phần mềm

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, trường hợp sau được xem là vi phạm bản quyền phần mềm:

  • Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này.
  • Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.
  • Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao tại các điều 25, 25a và 26 của Luật này.
  • Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và hành vi xâm phạm các quyền liên quan tại Điều 35 của Luật này.
  • Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả.
  • Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
  • Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
  • Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật này.

Theo Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP đã quy định phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khung phạt tiền này là khung phạt tiền được áp dụng đối với cá nhân chứ không phải pháp nhân.

Đồng thời, tại Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bởi Khoản 79 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 cũng quy định: “Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Tùy theo tính chất hành vi mà cá nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự như sau: Căn cứ tại khoản 1 Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bởi Điểm a Khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 đã quy định trong trường hợp người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi:

  • Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình; 
  • Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao ghi âm, bản sao bản ghi hình làm xâm phạm đến quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hoá vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
  • Đối với những trường hợp phạm tội có tổ chức; phạm tội 2 lần trở lên; thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại cho chủ quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên hoặc hàng hoá vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1 tỷ đồng, hoặc bị phạt từ từ 6 tháng đến 3 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 225 Bộ luật hình sự 2015. Không những thế, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đối với đối tượng là pháp nhân thương mại có hành vi sử dụng phần mềm không có bản quyền thì có thể căn cứ vào khoản 4 Điều 225 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bởi Điểm b Khoản 52 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 để xác định mức phạt như sau:

  • Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì vị phạt tiền từ 300.000.000 đến 1.000.000.000 đồng.
  • Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm.
  • Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”

3. Các điều kiện liên quan đến xung đột về bản quyền phần mềm

Theo Điều 18, 19,20, 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2022, điều kiện liên quan đến xung đột về bản quyền phần mềm là khi có:

  • Hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan đến phần mềm, bao gồm các hành vi như sao chép, phân phối, sửa đổi, hoặc sử dụng phần mềm trái phép.
  • Hành vi mạo danh: Tự nhận mình là tác giả hoặc chủ sở hữu bản quyền của phần mềm.
  • Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao phần mềm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Sử dụng mã nguồn, ý tưởng, hoặc giao diện phần mềm mà không được phép, hoặc phân phối phần mềm đã bị crack.
  • Vi phạm các điều khoản cấp phép: Không tuân thủ các điều khoản và điều kiện sử dụng được quy định bởi nhà cung cấp phần mềm, ví dụ như sử dụng phần mềm cho mục đích thương mại khi đã được cấp phép sử dụng cá nhân. 
  • Các hành vi vi phạm khác.

4. Giải pháp để xử lý liên quan xung đột về bản quyền phần mềm

Liên quan đến xung đột bản quyền phần mềm có thể xử lý bởi các giải pháp sau, tùy vào tính chất của hành vi và mối quan hệ, thỏa thuận các bên:

  • Đàm phán và hòa giải: Đây là một phương pháp giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách nhanh gọn và ít phí tổn hơn. Việc này khuyến khích họ cùng nhau thương thảo để tìm ra một giải pháp hài hòa mà không cần đến sự can thiệp của cơ quan pháp lý.
  • Áp dụng biện pháp dân sự: có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo pháp luật tố tụng dân sự để yêu cầu bên vi phạm bản quyền phải chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại, cải chính, xin lỗi công khai. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp khởi kiện tại Tòa án dân sự sẽ rất tốn kém về mặt thời gian (phải qua hai cấp xét xử, thời gian có thể là nhiều năm để kết thúc một vụ án) và chi phí.
  • Áp dụng biện pháp hành chính: có thể yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm bản quyền. Bên vi phạm ngoài việc bị buộc chấm dứt hành vi vi phạm bản quyền, còn có thể bị phạt tiền, tịch thu hàng hóa, đình chỉ hoạt động. Tuy nhiên, biện pháp hành chính không thể buộc bên vi phạm bồi thường thiệt hại hay xin lỗi, cải chính công khai.
  • Áp dụng biện pháp hình sự: nếu hành vi vi phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự thì bạn có thể nộp đơn tố giác đến cơ quan công an hoặc viện kiểm sát. Khi đó, cơ quan nhà nước sẽ có thể vào cuộc để đánh giá mức độ hành vi. Nếu đủ căn cứ là hành vi đã cấu thành tội phạm hình sự, bên vi phạm có thể bị khởi tố, truy tố trước tòa và có thể phải chịu hình phạt hình sự.

III. Các vấn đề thắc mắc liên quan xung đột về bản quyền phần mềm

1. Xung đột về bản quyền phần mềm có thể dẫn đến việc ngừng cung cấp dịch vụ hay sản phẩm không?

Xung đột về bản quyền phần mềm có thể dẫn đến việc ngừng cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm. Theo Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm là buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi vi phạm.

Do đó, khi một công ty hoặc cá nhân vi phạm bản quyền phần mềm, chủ sở hữu bản quyền có quyền thực hiện các hành động pháp lý, bao gồm cả việc yêu cầu ngừng cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến phần mềm đó. 

2. Doanh nghiệp cần lưu ý điều gì khi tạo ra phần mềm nhằm tránh xung đột về bản quyền?

Một số biện pháp có thể hạn chế tình trạng xung đột bản quyền:

  • Các nhà sản xuất phần mềm nên có những chính sách ưu đãi, giá cả phù hợp với sức mua của người dân;
  • Nhà nước nên có các kế hoạch nhằm phát triển các phần mềm sử dụng mã nguồn mở và có chất lượng có thể ứng dụng rộng rãi;
  • Đăng ký bảo hộ quyền tác giả phần mềm để lấy đó làm căn cứ bảo vệ quyền tác giả của minh đối với phần mềm khi xảy ra tranh chấp.
  • Giá bản quyền phần mềm đối với người dân Việt Nam vẫn là khá cao. Nhưng trên thực tế bạn vẫn có nhiều lựa chọn khác nhau để phù hợp với túi tiền của mình. Hãy hạn chế tối đa việc sử dụng phần mềm lậu tránh những hậu quả không đáng có.
  • Kiểm soát quyền truy cập và sử dụng: Doanh nghiệp cần có các biện pháp để kiểm soát việc sao chép, phân phối, và sử dụng phần mềm, đặc biệt là trong môi trường doanh nghiệp. 
  • Các biện pháp kỹ thuật: Sử dụng các công nghệ bảo vệ bản quyền, như mã hóa, để hạn chế việc sao chép và sử dụng trái phép. 

3. Thời điểm nào doanh nghiệp nên xem xét khởi kiện trong trường hợp xung đột về bản quyền phần mềm?

Doanh nghiệp nên khởi kiện khi phát hiện hành vi vi phạm hoặc xung đột về bản quyền phần mềm, đặc biệt là khi có đủ bằng chứng chứng minh việc sao chép, phân phối, hoặc sử dụng phần mềm trái phép. Theo Điều 429 Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng bản quyền phần mềm là 3 năm, tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Nếu quá thời hiệu này, doanh nghiệp có thể mất quyền khởi kiện. 

4. Xung đột về bản quyền phần mềm có thể dẫn đến những rủi ro pháp lý nào cho doanh nghiệp?

Xung đột bản quyền phần mềm có thể gây ra nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng cho doanh nghiệp cụ thể:

  • Bị xử phạt hành chính: doanh nghiệp có thể bị phạt tiền tùy vào hành vi vi phạm, tính chất và mức độ vi phạm theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP.
  • Phạt hình sự: Trong trường hợp sử dụng phần mềm với mục đích thương mại, thu lợi bất chính, hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng, doanh nghiệp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Bồi thường thiệt hại: Chủ sở hữu phần mềm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bồi thường toàn bộ thiệt hại do việc vi phạm bản quyền gây ra, bao gồm cả thiệt hại về kinh tế và uy tín. 
  • Mất uy tín: Việc sử dụng phần mềm lậu có thể làm giảm uy tín của doanh nghiệp, gây mất niềm tin từ khách hàng và đối tác. 
  • Rủi ro an ninh mạng: Phần mềm không có bản quyền thường chứa các mã độc hoặc virus có thể tấn công hệ thống, đánh cắp dữ liệu, hoặc gây gián đoạn hoạt động kinh doanh. 

5. Những nguyên nhân và tình huống nào dẫn đến xung đột về bản quyền phần mềm thường xảy ra?

Xung đột bản quyền phần mềm thường xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó vi phạm bản quyền là nguyên nhân chính, bao gồm việc sử dụng phần mềm không có bản quyền, sao chép trái phép, hoặc phân phối phần mềm mà không có sự cho phép của chủ sở hữu. Hoặc sử dụng phần mềm cho mục đích thương mại mà không có sự cho phép của chủ sở hữu phần mềm.

Xung đột bản quyền phần mềm thường xảy ra khi có sự vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm, bao gồm sao chép, phân phối, sửa đổi trái phép, hoặc sử dụng phần mềm không có giấy phép. Các tình huống phổ biến dẫn đến xung đột bản quyền phần mềm bao gồm:

  • Sử dụng phần mềm crack, lậu: Tải và cài đặt các phiên bản phần mềm đã bị bẻ khóa, không có bản quyền, hoặc phần mềm không rõ nguồn gốc. 
  • Sao chép, phân phối trái phép: Sao chép, chia sẻ, hoặc phân phối phần mềm cho người khác mà không có sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền. 
  • Sửa đổi phần mềm trái phép: Thay đổi, chỉnh sửa mã nguồn hoặc chức năng của phần mềm mà không có sự cho phép của tác giả. 

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn liên quan đến xung đột về bản quyền phần mềm?

Khi có xung đột liên quan đến bản quyền phần mềm, việc tìm luật sư tư vấn là rất quan trọng. Luật sư có thể giúp bạn hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, đưa ra các giải pháp pháp lý phù hợp và đại diện bạn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về xung đột về bản quyền phần mềm mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.