Công trình không hoàn thành đúng yêu cầu là một trong những trường hợp thường xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng thi công xây dựng. Bài viết này, sẽ tìm hiểu quy định pháp luật về công trình không hoàn thành đúng yêu cầu và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

I. Thực trạng công trình không hoàn thành đúng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay

Thực trạng các công trình xây dựng không hoàn thành đúng yêu cầu theo hợp đồng xảy ra khá phổ biến, bao gồm chậm tiến độ, chất lượng không đạt tiêu chuẩn và vi phạm các quy định pháp luật, dẫn đến các tranh chấp pháp lý và xử phạt hành chính. Công trình không hoàn thành đúng yêu cầu gây ra những hậu quả nghiệm trọng và ảnh hưởng lớn đến chủ đầu tư và các bên liên quan.

II. Công trình không hoàn thành đúng yêu cầu là gì?

Để hiểu rõ hơn về công trình không hoàn thành đúng yêu cầu và các trường hợp dẫn đến công trình không hoàn thành đúng yêu cầu, NPLaw sẽ phân tích qua nội dung bên dưới.

1. Khái niệm về công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Theo khoản 10 Điều 3 Luật xây dựng 2014 được sửa đổi bởi Điểm c Khoản 1 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020, công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước.

Theo đó, công trình không hoàn thành đúng yêu cầu là tình trạng công trình sau khi xây dựng xong không đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định về chất lượng theo thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng hoặc không tuân thủ thiết kế và giấy phép xây dựng đã được phê duyệt.

2. Các trường hợp dẫn đến công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Công trình không hoàn thành đúng yêu cầu trong nhiều trường hợp, bao gồm:

  • Chất lượng nhân công: Công nhân thiếu đào tạo, kinh nghiệm hoặc không hiểu rõ yêu cầu kỹ thuật có thể dẫn đến sai sót.
  • Không tuân thủ quy trình: Để đẩy nhanh tiến độ hoặc giảm chi phí, các bước quan trọng trong quy trình kỹ thuật có thể bị bỏ qua, ví dụ như không bảo dưỡng bê tông đúng cách hoặc thi công trong điều kiện thời tiết không phù hợp.
  • Thiết bị thi công: Sử dụng thiết bị không phù hợp, kém bảo dưỡng như máy trộn bê tông, máy đầm, cần cẩu có thể ảnh hưởng đến chất lượng kết cấu. 
  • Năng lực nhà thầu: Nhà thầu thiếu năng lực, huy động nhân lực, thiết bị không phù hợp hoặc chưa thực hiện đúng biện pháp thi công đã được phê duyệt.
  • Yếu tố khách quan: Thay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư, thời tiết xấu, thiên tai, dịch bệnh.

Có thể thấy qua phân tích nêu trên, công trình không hoàn thành đúng yêu cầu xuất phát từ nhiều trường hợp khác nhau.

3. Cách giải quyết khi xảy ra công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Để giải quyết khi công trình không hoàn thành đúng yêu cầu, cần thực hiện các bước sau: 

  • Thương lượng và làm việc với nhà thầu để yêu cầu khắc phục hoặc sửa chữa theo hợp đồng. 
  • Yêu cầu bồi thường và phạt hợp đồng nếu nhà thầu không thực hiện. 
  • Chấm dứt hợp đồng và tìm nhà thầu khác để hoàn thành công việc, đồng thời đòi chi phí phát sinh từ nhà thầu cũ. 
  • Nếu không đạt thỏa thuận, khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để giải quyết tranh chấp.

Như vậy, khi công trình không hoàn thành đúng yêu cầu các bên trong hợp đồng có thể giải quyết theo các phương thức trên.

III. Quy định pháp luật liên quan đến công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến công trình không hoàn thành đúng yêu cầu là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Tuy nhiên, trong bối cảnh quy định pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi thì việc hiểu và áp dụng đúng các quy định không phải là điều dễ dàng. 

Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về chủ thể cũng như việc công trình không hoàn thành đúng yêu cầu theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Quy định liên quan khi giải quyết công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Theo Điều 111 Luật xây dựng 2014 sửa đổi 2020, yêu cầu đối với thi công xây dựng công trình như sau:

  • Tuân thủ thiết kế xây dựng được duyệt, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng cho công trình, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng; bảo đảm an toàn chịu lực, an toàn trong sử dụng, mỹ quan, bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ và điều kiện an toàn khác theo quy định của pháp luật.
  • Bảo đảm an toàn cho công trình xây dựng, người, thiết bị thi công, công trình ngầm và các công trình liền kề; có biện pháp cần thiết hạn chế thiệt hại về người và tài sản khi xảy ra sự cố gây mất an toàn trong quá trình thi công xây dựng.
  • Thực hiện các biện pháp kỹ thuật an toàn riêng đối với những hạng mục công trình, công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, phòng, chống cháy, nổ.
  • Sử dụng vật tư, vật liệu đúng chủng loại quy cách, số lượng theo yêu cầu của thiết kế xây dựng, bảo đảm tiết kiệm trong quá trình thi công xây dựng.
  • Thực hiện kiểm tra, giám sát và nghiệm thu công việc xây dựng, giai đoạn chuyển bước thi công quan trọng khi cần thiết, nghiệm thu hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành để đưa vào khai thác, sử dụng.
  • Nhà thầu thi công xây dựng công trình phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với loại, cấp công trình và công việc xây dựng.

Theo khoản 2 Điều 122 Luật xây dựng 2014 sửa đổi 2020, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình có các nghĩa vụ sau:

  • Thực hiện giám sát theo đúng hợp đồng;
  • Không nghiệm thu khối lượng không bảo đảm chất lượng; không phù hợp với tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật và theo yêu cầu của thiết kế công trình;
  • Từ chối nghiệm thu khi công trình không đạt yêu cầu chất lượng;
  • Đề xuất với chủ đầu tư những bất hợp lý về thiết kế xây dựng;
  • Giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn, bảo vệ môi trường;
  • Bồi thường thiệt hại khi làm sai lệch kết quả giám sát đối với khối lượng thi công không đúng thiết kế, không tuân theo tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, nhưng người giám sát không báo cáo với chủ đầu tư hoặc người có thẩm quyền xử lý và hành vi vi phạm khác do mình gây ra;
  • Các nghĩa vụ khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan.

Theo khoản 1 Điều 145 Luật xây dựng 2014 sửa đổi 2020, các bên hợp đồng có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng trong trường hợp sau:

  • Bên giao thầu có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng khi bên nhận thầu không đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn lao động và tiến độ theo hợp đồng đã ký kết;
  • Bên nhận thầu có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng khi bên giao thầu vi phạm các thỏa thuận về thanh toán.

Như vậy, các quy định nêu trên được áp dụng khi giải quyết công trình không hoàn thành đúng yêu cầu.

2. Ai có thẩm quyền giải quyết công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Theo khoản 1 Điều 113 Luật xây dựng 2014 sửa đổi 2020, nhà thầu thi công xây dựng có các quyền sau:

  • Từ chối thực hiện những yêu cầu trái pháp luật;
  • Đề xuất sửa đổi thiết kế xây dựng cho phù hợp với thực tế thi công để bảo đảm chất lượng và hiệu quả;
  • Yêu cầu thanh toán giá trị khối lượng xây dựng hoàn thành theo đúng hợp đồng;
  • Dừng thi công xây dựng khi có nguy cơ gây mất an toàn cho người và công trình hoặc bên giao thầu không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng;
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại do bên giao thầu xây dựng gây ra;
  • Các quyền khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan.

- Theo điểm b khoản 8 Điều 146 Luật xây dựng 2014 sửa đổi 2020 có quy định các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp. Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật.


Theo đó, thẩm quyền giải quyết khi công trình không hoàn thành đúng yêu cầu phụ thuộc vào tính chất sự việc, có thể bao gồm chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước hoặc tòa án. Chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát và yêu cầu nhà thầu khắc phục, còn cơ quan quản lý nhà nước (như UBND cấp tỉnh, Bộ Xây dựng) có quyền xử lý vi phạm hành chính và xử lý sự cố theo quy định của pháp luật.

3. Hậu quả nếu công trình không hoàn thành đúng yêu cầu không thể xử lý?

Theo Điều 145, 146 Luật xây dựng 2014 sửa đổi 2020, nếu công trình thi công không hoàn thành đúng yêu cầu mà không thể xử lý được, nhà thầu sẽ chịu các hậu quả pháp lý như bị chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại và bị yêu cầu chịu toàn bộ chi phí sửa chữa. Chủ đầu tư có quyền tạm dừng thi công, tìm nhà thầu khác để khắc phục và nhà thầu vi phạm phải chịu mọi chi phí phát sinh.

Bên cạnh đó, các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp về thực hiện hợp đồng. Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật.

IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan công trình không hoàn thành đúng yêu cầu

Để hiểu rõ hơn về các quy định liên quan đến công trình không hoàn thành đúng yêu cầu, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.

1. Có cần phải lập biên bản ghi nhận khi phát hiện công trình không hoàn thành đúng yêu cầu không?

- Căn cứ theo khoản 3 Điều 123 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi 2020, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng. Tổ chức, cá nhân tham gia nghiệm thu chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình xác nhận khi nghiệm thu công trình xây dựng.

- Theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, căn cứ vào kế hoạch thí nghiệm, kiểm tra đối với các công việc xây dựng và tiến độ thi công thực tế trên công trường, người trực tiếp giám sát thi công xây dựng công trình và người trực tiếp phụ trách kỹ thuật thi công của nhà thầu thi công xây dựng công trình thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng công việc xây dựng đã được thi công, nghiệm thu; kết quả nghiệm thu được xác nhận bằng biên bản.


Theo quy định trên, khi phát hiện công trình không hoàn thành đúng yêu cầu, bắt buộc phải lập biên bản để ghi nhận tình trạng này. Biên bản này là căn cứ để đánh giá chất lượng thi công, các bên có thể đưa ra giải pháp khắc phục, yêu cầu sửa chữa hoặc điều chỉnh theo hợp đồng đã ký. 

2. Có thể yêu cầu bồi thường nếu công trình không hoàn thành đúng yêu cầu do lỗi của nhà thầu không?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 113 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi 2020, nhà thầu thi công xây dựng có các nghĩa vụ sau:

  • Bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng, sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, không bảo đảm yêu cầu theo thiết kế được duyệt, thi công không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường và hành vi vi phạm khác do mình gây ra;
  • Chịu trách nhiệm về chất lượng thi công xây dựng theo thiết kế, kể cả phần việc do nhà thầu phụ thực hiện (nếu có); nhà thầu phụ chịu trách nhiệm về chất lượng đối với phần việc do mình thực hiện trước nhà thầu chính và trước pháp luật;
  • Các nghĩa vụ khác theo quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan.

Căn cứ theo khoản 3, 5 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi 2020, bên nhận thầu phải bồi thường thiệt hại cho bên giao thầu trong các trường hợp sau:

  • Chất lượng công việc không bảo đảm với thỏa thuận trong hợp đồng hoặc kéo dài thời hạn hoàn thành do lỗi của bên nhận thầu gây ra;
  • Do nguyên nhân của bên nhận thầu dẫn tới gây thiệt hại cho người và tài sản trong thời hạn bảo hành.

Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng không phù hợp với quy định thì sau khi thực hiện nghĩa vụ hoặc áp dụng biện pháp sửa chữa còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu bên kia còn bị những thiệt hại khác, mức bồi thường thiệt hại phải tương đương với mức tổn thất của bên kia.

Như vậy, bên bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường nếu công trình không hoàn thành đúng yêu cầu do lỗi của nhà thầu.

3. Ai sẽ là người điều tra và xác minh nguyên nhân của việc công trình không hoàn thành đúng yêu cầu?

Theo khoản 2 Điều 112 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi 2020, chủ đầu tư có các nghĩa vụ sau:

  • Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động thi công xây dựng phù hợp với loại, cấp công trình và công việc thi công xây dựng;
  • Phối hợp, tham gia với Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng xây dựng để bàn giao cho nhà thầu thi công xây dựng;
  • Tổ chức giám sát và quản lý chất lượng trong thi công xây dựng phù hợp với hình thức quản lý dự án, hợp đồng xây dựng;
  • Kiểm tra biện pháp thi công, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường;
  • Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình;
  • Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết;
  • Xem xét, quyết định các đề xuất liên quan đến thiết kế của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng;
  • Lưu trữ hồ sơ xây dựng công trình;
  • Chịu trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc của vật tư, nguyên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm xây dựng do mình cung cấp sử dụng vào công trình;
  • Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và hành vi vi phạm khác do mình gây ra;
  • Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Theo đó, trách nhiệm điều tra và xác minh nguyên nhân khi công trình không hoàn thành đúng yêu cầu thuộc về chủ đầu tư và có thể phối hợp với các bên như đơn vị tư vấn giám sát, nhà thầu thi công và các cơ quan quản lý nhà nước (nếu cần). 

4. Có thể yêu cầu giám định để xác định mức độ thiệt hại do công trình không hoàn thành đúng yêu cầu không?

Theo khoản 10 Điều 2 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, giám định xây dựng là hoạt động kiểm định xây dựng và đánh giá sự tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, được tổ chức thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định 06/2021/NĐ-CP.

(Ảnh: giam-dinh-cong-trinh-khong-hoan-thanh-dung-yeu-cau)

Theo điểm b khoản 2 Điều 119 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi 2020, khi phát hiện, được thông báo về sự cố công trình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức giám định nguyên nhân sự cố, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố công trình.

Theo quy định trên, thì việc giám định thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện, được chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, chủ quản lý sử dụng công trình thông báo về sự cố công trình, khi đó việc giám định có thể xác định mức độ thiệt hại của công trình.

5. Có thể áp dụng hình thức phạt nào đối với bên không thực hiện nghĩa vụ khi công trình không hoàn thành đúng yêu cầu không?

Đối với công trình không hoàn thành đúng yêu cầu, có thể áp dụng các hình thức phạt sau:

- Phạt vi phạm hợp đồng: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm theo Điều 301 Luật Thương mại 2005.

- Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Ngoài mức phạt theo thỏa thuận, bên vi phạm hợp đồng còn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, bên thứ ba (nếu có) theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan khác theo khoản 2 Điều 146 Luật xây dựng 2014 được sửa đổi bởi điểm c Khoản 64 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020. Nếu hợp đồng không có quy định cụ thể, mức bồi thường áp dụng theo khoản 1, 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

Như vậy, có thể áp dụng các hình thức phạt nêu trên đối với công trình không hoàn thành đúng yêu cầu.

V. Bạn đang tìm một luật sư uy tín để giải quyết các vấn đề liên quan đến công trình không hoàn thành đúng yêu cầu?

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về công trình không hoàn thành đúng yêu cầu mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.