Việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng không chỉ là vi phạm cam kết mà còn kéo theo nhiều hệ quả pháp lý nghiêm trọng như mất bảo đảm dự thầu, bị cấm thầu hoặc bồi thường thiệt hại. Cùng NPLaw tìm hiểu những vấn đề pháp lý liên quan đến việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng.
I. Sự ảnh hưởng của nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng
Trong thực tiễn đấu thầu tại Việt Nam, tình huống nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng sau khi đã được công bố kết quả không phải là hiếm. Tuy nhiên, đây không đơn thuần là việc “từ chối hợp tác” mà có thể kéo theo nhiều hệ quả pháp lý nghiêm trọng đối với cả nhà thầu và chủ đầu tư.
Hành vi này có thể làm gián đoạn tiến độ dự án, phát sinh chi phí tổ chức đấu thầu lại, đồng thời gây ảnh hưởng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động đấu thầu. Trong nhiều trường hợp, nó còn dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Do đó, việc nhận diện đúng bản chất pháp lý và hậu quả của hành vi này là điều cần thiết để doanh nghiệp có hướng xử lý phù hợp.
II. Tìm hiểu về nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng
Để đánh giá đúng tính chất vi phạm, cần hiểu rõ hành vi này dưới góc độ pháp lý và so sánh với các tình huống tương tự.
1. Thế nào là hành vi nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng sau khi đã có thông báo chấp nhận hồ sơ?
Sau khi có quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và thông báo trúng thầu, nhà thầu có nghĩa vụ hoàn thiện hợp đồng và tiến hành ký kết trong thời hạn quy định. Theo quy định tại Điều 34 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, các trường hợp được xác định là không ký kết hợp đồng bao gồm: từ chối hoàn thiện hợp đồng, không đến hoàn thiện/ký kết, không ký hợp đồng.
Như vậy, hành vi nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng là việc nhà thầu đã được lựa chọn và nhận được thông báo chấp nhận hồ sơ dự thầu nhưng lại từ chối, không đến hoặc không thực hiện các thủ tục để ký hợp đồng chính thức trong thời hạn quy định. Hành vi này dẫn đến việc nhà thầu bị mất tiền bảo đảm dự thầu và bị đánh giá xấu về uy tín.
2. Tại sao việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng lại bị coi là vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong dân sự?
Trong giao dịch dân sự, việc nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu được hiểu là một "Đề nghị giao kết hợp đồng". Nhà thầu hoàn toàn tự nguyện khi quyết định tham gia và đưa ra các cam kết về giá cả, chất lượng, tiến độ. Khi chủ đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, tức là họ đã chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của nhà thầu. Lúc này, sự tự nguyện đã chuyển hóa thành nghĩa vụ thực hiện cam kết. Nếu nhà thầu từ chối ký kết, họ đã vi phạm nguyên tắc trung thực và thiện chí trong dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.

Tóm lại, nhà thầu không ký hợp đồng sau khi trúng thầu không phải là quyền tự do dân sự mà là hành vi vi phạm nguyên tắc thiện chí và cam kết ban đầu.
3. Sự khác biệt giữa việc từ chối thương thảo và việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng là gì?
Từ chối thương thảo và việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng có bản chất hoàn toàn khác nhau. Dưới đây là bảng so sánh chi tiết dựa trên quy định pháp luật hiện hành:
|
Tiêu chí |
Từ chối thương thảo hợp đồng |
Nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng |
|
Thời điểm |
Sau khi có kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu và nhà thầu được mời vào thương thảo (trước khi phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu). |
Sau khi đã có Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và hoàn thiện dự thảo hợp đồng. |
|
Vị thế nhà thầu |
Nhà thầu xếp hạng thứ nhất. |
Nhà thầu trúng thầu. |
|
Căn cứ pháp lý |
Điều 45 Nghị định 214/2025/NĐ-CP |
Điều 34 Nghị định 214/2025/NĐ-CP |
|
Hệ quả đối với Bảo đảm dự thầu |
Không được hoàn trả tiền bảo đảm dự thầu (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc lỗi từ phía chủ đầu tư). |
Không được hoàn trả tiền bảo đảm dự thầu. |
|
Hệ quả đối với gói thầu |
Chủ đầu tư mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo vào thương thảo. |
Chủ đầu tư có thể mời nhà thầu xếp hạng thứ hai hoàn thiện hợp đồng hoặc hủy thầu tùy trường hợp. |
|
Uy tín nhà thầu |
Bị đánh giá về uy tín trong việc tham dự thầu theo quy định tại Điều 20 Nghị định 214/2025/NĐ-CP. |
Bị đánh giá về uy tín ở mức độ nghiêm trọng hơn, có thể bị công khai thông tin vi phạm. |
Theo đó, sự khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm xảy ra hành vi và đối tượng thực hiện. Từ chối thương thảo xảy ra khi nhà thầu mới chỉ ở vị trí "xếp hạng thứ nhất" (chưa có quyết định trúng thầu), còn việc không ký kết hợp đồng xảy ra khi nhà thầu đã chính thức được phê duyệt là "nhà thầu trúng thầu".
4. Việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng có được coi là một hình thức chấm dứt đàm phán hợp pháp không?
Việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng không được coi là một hình thức chấm dứt đàm phán hợp pháp, mà bị xác định là hành vi vi phạm nghĩa vụ của nhà thầu trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Trừ trường hợp bất khả kháng, hành vi này sẽ dẫn đến các chế tài về tài chính và uy tín đối với nhà thầu. Trong đấu thầu, giai đoạn đàm phán (thương thảo) kết thúc khi các bên đã thống nhất nội dung và chủ đầu tư ban hành Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Việc ký kết hợp đồng là bước thực thi kết quả đã thống nhất. Do đó, từ chối ký kết lúc này không còn là "chấm dứt đàm phán" mà là từ bỏ kết quả trúng thầu.
Tóm lại, nếu không có lý do chính đáng nêu trên, việc từ chối ký kết hợp đồng là hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu, không phải là quyền tự do chấm dứt đàm phán như trong các giao dịch dân sự thông thường.
5. Việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng có đồng nghĩa với việc gói thầu đó bị hủy bỏ hoàn toàn?
Việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng không đồng nghĩa với việc gói thầu bị hủy bỏ hoàn toàn.
Căn cứ vào các trường hợp hủy thầu theo khoản 1 Điều 17 Luật Đấu thầu 2023 được bổ sung bởi Khoản 5 Điều 4 Luật sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu 2024 thì việc không ký kết hợp đồng không nằm trong các trường hủy thầu.
Đồng thời, theo khoản 8 Điều 45 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, trường hợp thương thảo không thành công (nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng), chủ đầu tư xem xét, quyết định mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo vào thương thảo.
Như vậy, việc nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng không đồng nghĩa với việc gói thầu bị hủy bỏ hoàn toàn. Chủ đầu tư có quyền mời nhà thầu xếp hạng tiếp theo vào thương thảo và hoàn thiện hợp đồng để tiếp tục thực hiện gói thầu. Gói thầu chỉ bị hủy bỏ nếu không còn nhà thầu nào khác đáp ứng yêu cầu hoặc việc tiếp tục không còn mang lại hiệu quả.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng
Việc xử lý hành vi này được quy định khá rõ trong hệ thống pháp luật đấu thầu và dân sự.
1. Theo Luật Đấu thầu mới nhất, hệ quả pháp lý tức thì khi nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng là gì?
Theo khoản 3 Điều 14 Luật Đấu thầu 2023, nhà thầu sẽ không được hoàn trả khoản tiền hoặc chứng thư bảo lãnh đã nộp cho chủ đầu tư. Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 7 Luật Đấu Thầu 2023, thông tin về việc nhà thầu trúng thầu nhưng không ký kết hợp đồng sẽ được chủ đầu tư cập nhật lên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Điều này dẫn đến:
- Điểm uy tín thấp: Ảnh hưởng đến kết quả đánh giá năng lực ở các gói thầu sau.
- Công khai vi phạm: Tên nhà thầu sẽ xuất hiện trong danh sách các đơn vị vi phạm quy định về đấu thầu.
Nếu việc không ký kết hợp đồng gây ra thiệt hại thực tế cho chủ đầu tư (ví dụ: làm chậm tiến độ dự án trọng điểm, phát sinh chi phí tổ chức lại việc lựa chọn nhà thầu), chủ đầu tư có quyền khởi kiện yêu cầu nhà thầu bồi thường theo nguyên tắc dân sự.

Như vậy hệ quả pháp lý tức thì khi nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng là nhà thầu sẽ bị tịch thu toàn bộ giá trị bảo đảm dự thầu (thường từ 1% đến 3% giá gói thầu) và bị đánh giá xấu về uy tín trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, gây bất lợi trực tiếp cho việc tham gia các gói thầu trong tương lai.
2. Cơ sở pháp lý nào cho phép chủ đầu tư khởi kiện đòi bồi thường nếu nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng gây thiệt hại lớn?
Cơ sở pháp lý để chủ đầu tư khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại dựa trên sự kết hợp giữa Bộ luật Dân sự 2015 (về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc vi phạm nghĩa vụ trong giai đoạn xác lập giao dịch):
- Căn cứ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015: Do hợp đồng chưa được ký kết, chủ đầu tư sẽ áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để khởi kiện. Nhà thầu có lỗi trong việc không thực hiện cam kết dẫn đến thiệt hại cho chủ đầu tư.
- Căn cứ về vi phạm nghĩa vụ trong xác lập giao dịch dân sự theo Điều 389 Bộ luật Dân sự 2015 (áp dụng tương tự cho việc từ chối ký kết sau khi trúng thầu):
- Căn cứ về trách nhiệm khi hủy thầu do lỗi của nhà thầu: Trong trường hợp hành vi không ký hợp đồng của nhà thầu dẫn đến việc phải hủy thầu để tổ chức lại, nhà thầu phải đền bù các chi phí liên quan.
Do đó, khi nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu, một quan hệ pháp lý về "đề nghị giao kết hợp đồng" đã được xác lập, do đó việc từ chối ký kết gây thiệt hại sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
3. Nhà thầu có quyền khiếu nại không nếu bị kết luận là nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng một cách oan uổng?
Nhà thầu có quyền khiếu nại nếu bị kết luận là nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng một cách oan uổng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Luật Khiếu nại 2011, khi nhà thầu cho rằng lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì nhà thầu hoàn toàn có quyền khiếu nại. Nhà thầu cần chứng minh việc không ký kết hợp đồng là do một trong các nguyên nhân sau: lỗi của chủ đầu tư, sự kiện bất khả kháng, sai sót trong thông báo.
Vì vậy, nhà thầu nên thu thập đầy đủ bằng chứng như: email giao dịch, biên bản thương thảo, bằng chứng về sự kiện bất khả kháng để làm cơ sở cho việc khiếu nại.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng
Việc xử lý hành vi này được quy định trong hệ thống pháp luật đấu thầu và dân sự.
1. Nếu giá vật liệu tăng quá cao so với lúc dự thầu, thì nhà thầu trúng thầu nhưng không ký kết hợp đồng có bị phạt không?
Căn cứ khoản 5 Điều 30 Nghị định 115/2024/NĐ-CP nhà thầu không được thay đổi, rút hoặc từ chối thực hiện các nội dung cơ bản đề xuất trong hồ sơ dự thầu đã được bên mời thầu đánh giá đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Khi nộp hồ sơ dự thầu, nhà thầu đã cam kết thực hiện gói thầu với mức giá đề xuất. Việc giá vật liệu tăng đột biến so với thời điểm mời thầu là một vướng mắc thực tế nhưng không làm thay đổi nghĩa vụ ký kết hợp đồng theo kết quả đã trúng thầu.
Do đó, nhà thầu vẫn bị phạt (tịch thu bảo đảm dự thầu và đánh giá xấu uy tín) nếu từ chối ký kết hợp đồng chỉ vì lý do giá vật liệu tăng cao (vì vi phạm nghĩa vụ ký kết hợp đồng). Theo quy định pháp luật, biến động giá thị trường thông thường được coi là rủi ro kinh doanh mà nhà thầu phải tự tính toán khi dự thầu, không được mặc nhiên coi là trường hợp bất khả kháng để miễn trách nhiệm ký kết hợp đồng.
2. Chủ đầu tư thay đổi một vài điều khoản nhỏ trong dự thảo hợp đồng, nhà thầu trúng thầu có thể lấy đó làm cớ để không ký kết hợp đồng?
Nhà thầu có quyền từ chối ký kết hợp đồng mà không bị phạt (không bị tịch thu bảo đảm dự thầu và không bị đánh giá xấu uy tín) nếu chủ đầu tư đưa ra các thay đổi trong dự thảo hợp đồng không phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu hoặc kết quả thương thảo đã thống nhất trước đó.
Theo khoản 4 Điều 34 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, nhà thầu được quyền từ chối hoàn thiện hợp đồng, không bị đánh giá về uy tín... và được hoàn trả giá trị bảo đảm dự thầu (nếu có) trong trường hợp chủ đầu tư đưa ra các yêu cầu khi hoàn thiện hợp đồng không phù hợp với nội dung của hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, kết quả thương thảo hợp đồng (nếu có).
Đồng thời theo khoản 3 Điều 30 Nghị định 115/2024/NĐ-CP, chủ đầu tư không được phép đơn phương thay đổi các nội dung cơ bản đã được xác lập. Việc "thay đổi một vài điều khoản nhỏ" nếu làm phát sinh thêm nghĩa vụ hoặc rủi ro cho nhà thầu mà không có trong hồ sơ mời thầu là vi phạm nguyên tắc đấu thầu.
Như vậy, khi chủ đầu tư thay đổi một vài điều khoản nhỏ trong dự thảo hợp đồng, nhà thầu trúng thầu có thể lấy đó làm cớ để không ký kết hợp đồng.
3. Nếu nhân sự chủ chốt của nhà thầu trúng thầu đột ngột qua đời dẫn đến việc không ký kết hợp đồng, nhà thầu có bị liệt vào danh sách đen?
Nhà thầu sẽ không bị liệt vào danh sách đen và không bị coi là vi phạm nếu chứng minh được việc không ký kết hợp đồng là do nhân sự chủ chốt qua đời – đây được xem là một trường hợp bất khả kháng. Trong tình huống này, nhà thầu có quyền đề xuất thay đổi nhân sự tương đương hoặc từ chối ký kết mà vẫn được hoàn trả bảo đảm dự thầu.
Theo khoản 4 Điều 45 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, nhà thầu thường không được thay đổi nhân sự chủ chốt đã đề xuất. Tuy nhiên, trường hợp nhân sự qua đời là lý do bất khả kháng được pháp luật cho phép thay thế.
Việc bị liệt vào danh sách đen (cấm tham gia hoạt động đấu thầu) chỉ áp dụng cho các hành vi gian lận, thông thầu hoặc cố ý vi phạm. Trường hợp do sự kiện khách quan (nhân sự qua đời) không thuộc các hành vi bị cấm.
4. Chủ đầu tư có quyền đòi bồi thường thêm ngoài tiền bảo đảm dự thầu khi nhà thầu trúng thầu nhưng không ký kết hợp đồng không?
Thông thường, chủ đầu tư không có quyền đòi bồi thường thêm ngoài số tiền bảo đảm dự thầu. Việc tịch thu bảo đảm dự thầu được coi là biện pháp chế tài cao nhất đối với hành vi từ chối ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, nếu hành vi của nhà thầu vi phạm pháp luật về đấu thầu dẫn đến việc phải hủy thầu, nhà thầu đó phải đền bù chi phí tổ chức đấu thầu lại cho các bên liên quan.
Dưới đây là các hình thức xử lý khi nhà thầu trúng thầu nhưng không ký kết hợp đồng:
- Nhà thầu từ chối ký kết hợp đồng sau khi đã hoàn thiện hợp đồng: Tịch thu (không hoàn trả) giá trị bảo đảm dự thầu (theo khoản 9 Điều 14 Luật Đấu thầu 2023).
- Nhà thầu vi phạm pháp luật đấu thầu dẫn đến phải hủy thầu: Tịch thu bảo đảm dự thầu và đền bù chi phí tổ chức đấu thầu lại (theo điểm đ khoản 9 Điều 14 Luật Đấu thầu 2023).
- Nhà thầu từ chối ký kết do lỗi của chủ đầu tư (đưa ra yêu cầu sai hồ sơ mời thầu): Không bị tịch thu bảo đảm dự thầu, không phải bồi thường (theo khoản 4 Điều 34 Nghị định 214/2025/NĐ-CP).
Như vậy, nếu nhà thầu chỉ đơn thuần là từ chối ký kết vì lý do kinh doanh (không kèm theo các hành vi vi phạm nghiêm trọng khác gây hủy thầu), chủ đầu tư chỉ được quyền tịch thu số tiền bảo đảm dự thầu mà nhà thầu đã nộp hoặc bảo lãnh ngân hàng đã thực hiện.
5. Có bị cấm thầu ở các tỉnh khác nếu tôi là nhà thầu trúng thầu nhưng không ký kết hợp đồng tại một gói thầu địa phương?
Không bị cấm thầu trên phạm vi toàn quốc hay ở các tỉnh khác nếu chỉ đơn thuần là từ chối ký kết hợp đồng.
Theo khoản 6 Điều 29 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, trường hợp nhà thầu không tiến hành hoàn thiện, ký kết hợp đồng... thì nhà thầu sẽ bị loại và bị đánh giá về uy tín khi tham dự thầu... bị khóa tài khoản trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chủ đầu tư công khai tên nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Điều này khiến các chủ đầu tư ở tỉnh khác có thể nhìn thấy và loại hồ sơ của bạn trong các gói thầu tương lai.
Như vậy, nhà thầu vẫn có quyền nộp hồ sơ ở tỉnh khác, nhưng khả năng trúng thầu sẽ rất thấp do tài khoản bị khóa 03 tháng và điểm uy tín bị trừ nặng trên hệ thống toàn quốc.
V. Bạn đang tìm luật sư giỏi, uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng?
Việc xử lý tình huống nhà thầu trúng thầu không ký kết hợp đồng đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc cả về pháp luật đấu thầu và dân sự. Nếu không xử lý đúng, doanh nghiệp có thể đối mặt với thiệt hại tài chính, tranh chấp kéo dài rủi ro bị thanh tra, kiểm toán.
NPLaw với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm sẵn sàng hỗ trợ tư vấn xử lý vi phạm đấu thầu, soạn thảo và rà soát hợp đồng, đại diện giải quyết tranh chấp.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.